Nguyên Chủ tịch Quốc hội khuyến nghị đổi mới hệ thống chính trị

 

LTSĐảng Cộng sản Việt Nam có hạnh phúc to lớn mà không dễ chính đảng nào có được: đó là sự tin yêu, đùm bọc, hy sinh, che chở của nhân dân trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập.

Trong hòa bình, dựng xây đất nước, có những lúc Đảng phạm những sai lầm, nhưng nhân dân vẫn đi theo Đảng, vẫn chung sức cùng Đảng sửa sai, mà sự nghiệp đổi mới thành công trong gần 25 năm qua là một minh chứng sinh động.

Hôm nay, trước thềm Đại hội 11, trước những vận hội mới mở ra với đất nước, người dân lại mang hết tâm huyết hiến kế để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước làm nên những trang sử mới cho dân tộc Việt Nam. Trong tinh thần đó, Tuần Việt Nam giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, với mong muốn Đại hội 11 sẽ thực sự là những ngày hội lớn của toàn dân, sẽ thổi lên hào khí cho đất nước. Mời bạn đọc cùng tranh luận, hiến kế với Đảng.

 

Các dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng XI vừa được công bố rộng rãi để lấy ý kiến nhân dân. Như Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã nhấn mạnh: “Đây là một khâu rất quan trọng trong xây dựng Đảng về chính trị – vấn đề cốt tử của Đảng và là nhiệm vụ hàng đầu trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”. Bằng cách chân thành lắng nghe và tiếp thu thực chất những ý kiến đóng góp của dân, Đảng sẽ cộng hưởng được trí tuệ của toàn dân tộc để lãnh đạo đất nước vượt lên trong một thời đại rất nhiều cơ hội nhưng cũng vô vàn thách thức.

Trò chuyện với Tuần Việt Nam, ông Nguyễn Văn An (nguyên Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Quốc hội, Trưởng ban Tổ chức Trung ương) đã chia sẻ nhiều ý kiến thẳng thắn xung quanh việc chuẩn bị cho Đại hội XI. Nhận mình là người sinh ra trong lòng chế độ, gắn bó máu thịt với chế độ, ông Nguyễn Văn An cho rằng cá nhân ông muốn nhân cơ hội này để nói những suy nghĩ của mình. Ông mong muốn thông qua cuộc trò chuyện này, chia sẻ những suy nghĩ, góc nhìn riêng của một đảng viên và một công dân bình thường với nguyện vọng để Đảng có chủ trương đổi mới toàn diện và triệt để hơn, đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân hơn; để những giá trị cao đẹp của Nền Dân chủ Cộng hòa, của Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ngày càng được thể hiện trong cuộc sống sinh động như di nguyện của Bác Hồ.

Suốt cuộc trò chuyện, ông An nhiều lần nhấn mạnh, góc nhìn của ông đôi chỗ có thể “khó nghe” hoặc cần phải tranh luận thêm, nhưng với trách nhiệm Đảng viên, trách nhiệm công dân, ông cứ mạnh dạn đưa ra, như một sự xới xáo vấn đề trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, tôn trọng những ý kiến khác biệt mà Đảng luôn kêu gọi.

Ông luôn nhắc đi nhắc lại rằng, nhận thức là một quá trình. Nhận thức của ông cũng thay đổi theo đường lối đổi mới của Đảng và sự phát triển của thế giới. Ông cũng luôn khẳng định phần trách nhiệm của mình về những nhận thức và việc làm còn nhiều hạn chế và yếu kém của ông khi còn đương nhiệm.

Thưa ông Nguyễn Văn An, các văn kiện chuẩn bị trình Đại hội XI vừa được công bố rộng rãi để lấy ý kiến nhân dân, vừa rồi ông có tham gia ý kiến gì không?

Ông Nguyễn Văn An: Tôi đã có rất nhiều cơ hội tham gia ý kiến trực tiếp với một số hội nghị do Bộ Chính trị tổ chức, góp ý trực tiếp với nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở Trung ương và một số địa phương. Hôm nay với tư cách là một đảng viên, một công dân bình thường, tôi chỉ phát biểu vài vấn đề chung, vì văn kiện thì có nhiều vấn đề lớn rất quan trọng.

Trong rất nhiều vấn đề quan trọng đó, lần này tôi chỉ tập trung nhấn mạnh hai vấn đề có ý nghĩa lý luận – thực tiễn cốt yếu, đó là: Vấn đề sở hữu và thành phần kinh tế; vấn đề xây dựng Đảng, đặc biệt là dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ cách nhìn thế nào, cách nhận thức thế nào,… từ đó sẽ đi tới những ý kiến khác nhau, đó cũng là điều dễ hiểu. Nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Đại hội XI sẽ lắng nghe và chắt lọc như thế nào? Đó mới là khâu quyết định.

Dư luận trong Đảng và trong xã hội hiện đang có ít nhất hai khuynh hướng:

–         Về cơ bản vẫn giữ cái khung các dự thảo văn kiện như hiện nay. Cụ thể, Cương lĩnh 2010 vẫn giữ khung cơ bản của Cương lĩnh 91 như dự thảo, có bổ sung sửa đổi đôi chút, hoặc thêm bớt, hoặc đảo từ,… chủ yếu bây giờ là đi vào nhân sự thôi.

–         Hoặc, Cương lĩnh 2010 phải vượt qua cái khung cơ bản của Cương lĩnh 91 như dự thảo, để xây dựng một Cương lĩnh 2010 mới đáp ứng yêu cầu của Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn đổi mới toàn diện, triệt để, cả kinh tế và chính trị, tức là hoàn thiện ở mức độ cao hơn, mức độ SỬA LỖI HỆ THỐNG.

Tôi mong muốn Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, mong muốn Đại hội XI chọn khuynh hướng thứ hai, khuynh hướng SỬA LỖI HỆ THỐNG, khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện và triệt để,cả kinh tế và chính trị thì chúng ta mới khắc phục được lỗi hệ thống, vì chúng ta mắc lỗi hệ thống mà chúng ta chỉ chỉnh sửa theo khuynh hướng thứ nhất thì chúng ta không ra khỏi lỗi hệ thống được.

Đại hội XI chưa làm được như vậy thì đến đại hội XII, vì “ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay“, và Đại hội XII bắt đầu từ Đại hội XI.

Nhiều nhà nghiên cứu lý luận khoa học đã đề cập đến lỗi hệ thống, song nhiều người thường ngại ngần, né tránh, mỗi khi bàn tới cụm từ LỖI HỆ THỐNG có lẽ vì ngại động chạm vào cái thiêng liêng nhất, vào điểm cơ bản trên đường đi của cách mạng Việt Nam. Ông, có thể mô tả lỗi hệ thống một cách dễ hiểu nhất như thế nào?

Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình và đã được cuộc sống kiểm nghiệm là chưa phù hợp với thời đại ngày nay. Lâu nay chúng ta thường mới nói tới cái lỗi của mô hình thôi.

Có lẽ, lỗi hệ thống rõ ràng nhất, cụ thể nhất, toàn diện và triệt để nhất chủ yếu là từ khi chúng ta chuyển từ Cách mạng dân tộc dân chủ sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo mô hình của Cộng hòa Xô Viết – một mô hình rất xa lạ với những mô hình và lý thuyết phổ quát. Mà mô hình của Cộng hòa Xô Viết thì lại bắt nguồn từ những lý thuyết của chủ nghĩa Marx-Lenin.

Tôi chỉ là người làm thực tiễn nên chỉ có thể đề cập đến vấn đề này từ góc độ thực tiễn. Đề nghị Hội đồng lý luận Trung ương, các Trung tâm nghiên cứu Khoa học giúp Đảng và Nhà nước ta làm rõ vấn đề này.

Tôi chỉ đề cập vài vấn đề về kinh tế và chính trị mà tôi cho là đã rõ, nhiều người đã cảm nhận được từ thành quả của công cuộc đổi mới của nước ta do Đảng ta lãnh đạo, từ sự sụp đổ của các đảng cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô (cũ), từ sự đánh giá về thời đại ngày ngay,…


Ông Nguyễn Văn An. Ảnh: Phạm Hải.

Từ chỗ đánh giá Cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành, chúng ta phải chuyển ngay sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa theo luận thuyết cách mạng không ngừng. Luận thuyết cách mạng không ngừng là đúng, còn cái sai là ở chỗ chúng ta đánh giá cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn thành tới mức phải chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Khi đó cũng có ý kiến cho rằng Cách mạng dân tộc dân chủ của ta chưa hoàn thành cơ bản, chúng ta mới làm được phần Cách mạng dân tộc, đánh đuổi thực dân, đế quốc, giành lại độc lập cho dân tộc; còn phần Cách mạng dân chủ thì mới làm được một phần, mới đánh đổ vua chúa phong kiến, còn rất nhiều nội dung của Cách mạng dân chủ chúng ta chưa làm được, đến tận ngày nay vẫn còn nhiều vấn đề về dân chủ chúng ta cũng chưa làm được.

Lâu nay chúng ta quan niệm bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Không hiểu mệnh đề này có còn phù hợp với tình hình hiện nay và tới đây không?

Chúng ta chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa là theo lý thuyết có tính tiền đề rằng, các nước kém phát triển có thể bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nếu được sự giúp đỡ vô tư trên tinh thần anh em của những nước xã hội chủ nghĩa hùng cường.

Tiền đề quan trọng đó trước đây và hiện nay là chưa có thật. Có lẽ đây chính là cái gốc ban đầu dẫn đến cái LỖI HỆ THỐNG như tôi vừa nói. Cái lỗi này là do nhận thức không đúng về thời cơ Cách mạng.

Thời cơ chuyển từ Cách mạng dân tộc dân chủ sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa có một vấn đề bao trùm chưa phù hợp, đó là vấn đề dân chủ mà chúng ta chưa hoàn thành cơ bản trong Cách mạng dân tộc dân chủ. Dân chủ trong kinh tế, dân chủ trong chính trị, dân chủ trong văn hóa,… Mà dân chủ và phát triển là hai anh em song sinh. Nền dân chủ còn thấp thì nền kinh tế sẽ kém phát triển. Và, như vậy thì làm sao có xã hội xã hội chủ nghĩa – một xã hội đòi hỏi phải có nền dân chủ và nền kinh tế phát triển cao hơn các nước tư bản phát triển nhất hiện nay.

Điều ông vừa nói nên hiểu như thế nào? Và ông nghĩ như thế nào về quốc hiệu của Việt Nam trong giai đoạn đó?

Trong Cách mạng dân tộc dân chủ, Quốc hiệu của Việt Nam là: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” là rất đúng với bản chất, với nội dung của cuộc Cách mạng dân tộc dân chủ, phù hợp với hình thức chính thể cộng hòa dân chủ mà nhân loại thừa nhận và hướng tới, lại vừa rất đúng với ngữ pháp Việt Nam. Khi chuyển sang Cách mạng xã hội chủ nghĩa, Quốc hiệu của Việt Nam lại đổi thành: “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, vừa chưa phù hợp về bản chất và hình thức chính thể của nhà nước ta, vừa chưa thật rõ về nội dung, thực chất là chúng ta đã phải xác định lại nhiều lần mà vẫn chưa thật rõ, chỉ nói ngày càng rõ hơn mà thôi; mặt khác ngữ pháp lại không phải là ngữ pháp Việt Nam. Nó là ngữ pháp nước ngoài, không Tàu thì là Tây.

Nếu theo ngữ pháp Việt Nam thì phải viết là: “Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa” mới đúng. Ngữ pháp Việt Nam tính từ bao giờ cũng đi sau danh từ (ví dụ: Quả gấc đỏ, chứ không nói quả đỏ gấc).

Quốc hiệu Việt Nam vừa phải thể hiện chính xác hình thức chính thể của nhà nước ta, vừa phải đúng với ngữ pháp Việt Nam. Những người quan tâm đến sự lựa chọn chính xác chính thể; những người quan tâm đến sự trong sáng của tiếng Việt, những người có lòng tự trọng dân tộc đều băn khoăn đến Quốc hiệu hiện nay. Ngay Trung Quốc, Lào… họ cũng vẫn giữ Quốc hiệu cũ của họ là “Cộng hoà dân chủ nhân dân…”, họ chưa đổi thành Quốc hiệu có tính từ  XHCN.

Khi nói đến cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vẫn nói đến dân chủ, nhưng tính dân chủ được hiểu nhẹ đi, tính chuyên chính vô sản được hiểu nổi trội hơn, có phần cực đoan hơn, thể hiện rõ nhất là thông qua cải tạo XHCN. Do đó mà nhiều người Việt Nam muốn trở lại với Quốc hiệu Việt Nam thời Cách mạng dân tộc dân chủ, tức là “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, vừa đúng với bản chất và nội dung của hình thức chính thể của nước ta, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, lại vừa đúng với ngữ pháp Việt Nam, là sửa cái lỗi hệ thống ban đầu của chúng ta. Nếu được trưng cầu dân ý, tôi tin chắc sẽ được sự đồng tình của tuyệt đại đa số nhân dân.

Bản chất của công cuộc đổi mới trên lĩnh vực kinh tế đó chính là dân chủ hóa trên lĩnh vực này có phải không?

Đúng vậy. Từ chỗ chủ yếu có hai thành phần kinh tế đến chỗ có nhiều thành phần kinh tế. Từ chỗ đảng viên, công chức nhà nước không được làm kinh tế đến chỗ đảng viên, công chức nhà nước được làm kinh tế theo pháp luật. Từ chỗ đất đai là thuộc sở hữu nhà nước đến chỗ người sử dụng đất đai đã được 5 quyền như người chủ sở hữu, tuy còn có điểm rất mù mờ….

Sở hữu tư nhân thực chất vẫn là vấn đề dân chủ tự do trên lĩnh vực kinh tế, trong mưu cầu hạnh phúc của mỗi người, nó là cội nguồn cảm hứng, là động lực to lớn cho sự phát triển. Kết quả của nó kỳ diệu như thế nào mọi người đã biết.

Vẫn biết rằng nó cũng đẻ ra những bất công mới, những mâu thuẫn mới đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn khách quan trong từng giai đoạn. Song đây là con đường dân chủ, con đường phát triển, con đường sống ngày càng hạnh phúc hơn.

Chúng ta cần sửa cái sai từ gốc này một cách toàn diện hơn, triệt để hơn như nhiều ý kiến đề xuất của quần chúng, của nhiều tổ chức và nhiều nhà khoa học, trí thức, nhân sĩ trong và ngoài nước.

Sở hữu tư nhân là động lực vô cùng to lớn, song không phải không cần đến sở hữu nhà nước. Nhưng sở hữu nhà nước không phải là mục đích, mà chỉ là phương tiện trong giai đoạn nào, thời điểm nào, trong lĩnh vực cụ thể nào, vì lợi ích đích thực của nhân dân và của nhà nước chứ không phải vì mục đích tự thân.

Vấn đề đất đai và một loạt tập đoàn kinh tế của nhà nước đang còn nhiều vấn đề bức xúc, kém hiệu quả, cần phải được nghiên cứu giải quyết. Nhiều vụ án bê bối về đất đai cũng như Vinashin chỉ là những bộc lộ điển hình. Nhiều tập đoàn tư nhân ở trong và ngoài nước cũng có hiện tượng phá sản, bê bối như thế, nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Kinh tế thị trường là như vậy. Nhưng đối với đất đai và các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam lại có đặc điểm riêng của nó.

Vinashin đang là vấn đề nổi cộm, tranh cãi, nhiều ý kiến khác nhau. Phải chăng sự khác nhau mà người ta không muốn nói đến chính là có phần do lỗi hệ thống?

Tôi cũng nghĩ có phần sâu xa là như vậy. Tôi cho rằng Vinashin vừa là hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vừa có căn nguyên sâu xa bắt nguồn từ lỗi của hệ thống, lỗi từ gốc, từ chủ trương của Ban Chấp hành Trung ương và của Bộ Chính trị xuất phát từ quan điểm rằng: xã hội xã hội chủ nghĩa phải được xây dựng dựa trên “… chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”. Mô hình này lại xuất phát từ một lý thuyết cực đoan cho rằng: tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của mọi sự bóc lột.

Từ một lý thuyết cực đoan đi tới một mô hình kinh tế không có động lực mà thực tế cuộc sống đã bác bỏ. Chính phủ là người thực thi chủ trương đó của Đảng về mặt nhà nước. Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị có quyền lớn như vậy thì có phải chịu trách nhiệm gì không?

Với thể chế như hiện nay ở Việt Nam thì mọi thành công hay thất bại đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng. (Ông cười tủm tỉm, nói nhỏ rằng: Không nên nói “mắt mùa là tại thiên tai, được mùa là tại thiên tài Đảng ta” – pv).

Đành rằng phải có trách nhiệm cá nhân trong quản trị hành chính và quản trị doanh nghiệp, phải xem xét cẩn trọng, có lý, có tình, không tranh công, đổ lỗi. Song phải rất chú ý đi sâu làm rõ cái lỗi của hệ thống, do sai sót của hệ thống làm trầm trọng thêm.

Có ý kiến cho rằng, nếu bỏ điều kiện “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu” thì xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng sẽ chẳng khác gì các nước tư bản phát triển văn minh cả?

Rất nhiều người không đồng tình với quan điểm này. Nếu nước ta khác về đời sống vật chất và tinh thần cao hơn, văn minh hơn, tức là chất lượng cuộc sống cao hơn, nhất là dân chủ tự do cao hơn thì đồng ý. Còn nước ta phải công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu để khác với các nước tư bản phát triển thì lại là vấn đề sai từ gốc. Rất nhiều ý kiến đề nghị bỏ đoạn này trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XI.

Vả lại, ngay ở các nước tư bản chủ nghĩa cũng có phần sở hữu nhà nước, quy mô lớn nhỏ là tùy lúc, tùy nơi, họ không coi đó là mục đích, mà chỉ coi là phương tiện; xuất phát điểm của họ là vì lợi ích, cái gì nhà nước làm tốt hơn (theo nghĩa tổng thể) hoặc tư nhân không làm thì nhà nước làm, cái gì tư nhân làm tốt hơn thì tư nhân làm. Họ không xuất phát từ lý thuyết coi tư hữu về tư liệu sản xuất là nguồn gốc của mọi sự bóc lột, họ xuất phát từ lợi ích, từ hiệu quả tổng hợp của nền kinh tế, có tính cả đến vấn đề quốc phòng và an ninh của quốc gia.

Ngay ở Việt Nam chúng ta, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể theo kiểu cũ đã có vai trò và đóng góp to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đó là điều cần phải được khẳng định. Song sang thời bình như hiện nay thì chúng ta buộc phải đổi mới, đất nước đã chuyển sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, không thể tiếp tục cách làm cũ, vì nó không có động lực. Đó cũng là điều đã được cuộc sống khẳng định.

Vấn đề chủ yếu của quản trị hành chính nhà nước là có chính sách kiểm soát, phân phối và phân phối lại lợi nhuận một cách hợp lý, chứ không phải là công hữu hóa tư liệu sản xuất chủ yếu. Do đó chúng ta phải dứt khoát từ bỏ lý thuyết và mô hình sai trái từ gốc này, vì hậu quả của nó gây ra như thế nào mọi người đều đã biết. Đó là con đường trở về thời kỳ thiếu thốn và đói khổ.

Tóm lại, vấn đề sở hữu, vấn đề cơ chế quản trị tài sản công (đất đai và các tập đoàn kinh tế nhà nước…) cần được xem xét giải quyết dứt khoát, cụ thể và triệt để. Tức là phải dân chủ hóa triệt để hơn nữa trong kinh tế, các cấp ủy Đảng không trực tiếp tham gia vào quá trình quản trị doanh nghiệp, luật pháp cần phải được sửa đổi, bổ sung theo hướng quản trị doanh nghiệp và quản trị hành chính nhà nước phải được thông suốt, tách bạch, trách nhiệm rõ ràng.

Bây giờ xin được nghe ý kiến của ông về vấn đề xây dựng Đảng. Vừa rồi báo Nhân dân có loạt bài kể lại câu chuyện của Liên Xô cũ. Vì sao một đảng hùng mạnh, đã lãnh đạo nhân dân Nga chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, một đảng giành được thành tựu rực rỡ trong xây dựng CNXH lại đổ sụp nhanh đến vậy, sau 74 năm cầm quyền?

Bài học của Liên Xô (cũ) vẫn còn nguyên giá trị. Từ đó mới thấy yêu cầu xây dựng Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội, đoàn kết trong Đảng và trong xã hội là vấn đề cốt tử của những vấn đề cốt yếu, vấn đề sống còn của Đảng và chế độ ta. Mọi thành công hay thất bại của Cách mạng Việt Nam đều từ đây mà ra. Không kẻ thù nào có thể phá được Đảng ta trừ chính những người cộng sản chúng ta.

Quan sát sự tan rã của một số Đảng cộng sản ở Liên Xô (cũ) và Đông Âu, thì thấy rằng, những người cộng sản phá Đảng không phải chỉ là những người cộng sản phản bội Đảng, những người cộng sản bị kẻ thù mua chuộc, bị diễn biến hòa bình,… Mà phần nhiều lại chính là những người cộng sản chân chính, những người cộng sản không muốn bảo vệ Đảng của mình nữa, vì thực tế Đảng của mình đã thoái hóa biến chất mất rồi, nhất là vì Đảng của mình đã phạm sai lầm có tính hệ thống mà không nhận ra được và không khắc phục được. Đảng đã trở thành lực lượng cản trợ dân chủ, tự do, cản trợ sự phát triển của xã hội. Đảng đã trở thành ông Vua tập thể, đã trở thành Đảng trị mất rồi.

Chúng ta rút được bài học gì từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô?

Hãy thử quan sát và phân tích sự giải tán của một Đảng tại quê hương của Cách mạng tháng Mười thì rõ. Tại sao một người đứng đầu Đảng và Nhà nước tuyên bố giải tán Đảng là Đảng đó bị giải tán ngay? Một người có làm được việc đó không? Hay người đó chỉ là người thay mặt cho số đông những người trong Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương, trong toàn Đảng, trong cả hệ thống chính trị? Đội ngũ trí thức đâu? Liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động đâu? Hệ thống thông tấn, báo chí đâu? Lực lượng vũ trang hùng hậu đâu mà không bảo vệ Đảng? Tại sao họ quay mặt đi? Hay là họ cũng đồng tình? Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, tại sao quần chúng không bảo vệ?

Nâng thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân. Vấn đề là lòng dân: Thuận lòng dân thì còn, trái lòng dân thì mất. Ý dân là ý trời.

Nhiều cơ quan thông tin đại chúng của chúng ta thường đưa tin chủ yếu là do nguyên nhân bị diễn biến hòa bình, một số cán bộ chủ chốt bị mua chuộc phản bội lại Đảng, dẫn tới cách mạng màu,… mà chưa đi sâu vào nội bộ Đảng, vào lỗi hệ thống của Đảng, vào sự thoái hóa biến chất trong Đảng, Nhà nước và Xã hội do lỗi hệ thống gây ra. Đảng đã trở thành lực lượng cản trở sự phát triển của xã hội, đã trở thành lực cản của sự phát triển tự do dân chủ của xã hội. Nói theo tinh thần của Marx thì cái gì cản trở sự phát triển là thối nát, là phản động. Chính những người cộng sản chân chính, chính liên minh giai cấp công nhân với nông dân và nhân dân lao động, chính độ ngũ trí thức cũng không muốn bảo vệ một Đảng đã thoái hóa biến chất như vậy. Đó mới là nguyên nhân chính, chứ không phải do kẻ thù của chủ nghĩa xã hội phá hoại là chính. Chính những người cộng sản chân chính cũng muốn giải tán Đảng đã biến chất để xây dựng Đảng mới, để sửa lỗi hệ thống, để làm lại từ đầu.

Và như chúng ta đã biết, nhân dân ở các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ) đã phúc quyết Hiến pháp mới để xác lập chính thể mới phù hợp với thông lệ quốc tế nhằm sửa cái lỗi hệ thống của họ. Một bài học quá đắt giá trong lịch sử nhân loại. Chúng ta cần tỉnh giác để suy ngẫm, để chỉnh đốn Đảng ta như trong di chúc thiêng liêng của Bác Hồ đã ghi.

Ngược về quá khứ, Bác Hồ đã xây dựng nền tảng của hệ thống như thế nào?

Lúc chọn đường đi cho dân tộc, trong khi nhiều nước phương Tây chọn Quốc tế II thì Bác Hồ lại chọn Quốc tế III, vì Quốc tế II không ủng hộ giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa, Quốc tế III ủng hộ giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa.

Bác Hồ là người tiếp thu các học thuyết, các chủ nghĩa tiên tiến của phương Tây, tiếp thu tinh hoa văn hóa phương Đông, Tư tưởng – Minh triết của Bác đã soi đường và thúc đẩy phong trào Cách mạng Việt Nam. Trong Bác Hồ chúng ta thấy có cả những phần tinh túy và phù hợp với Cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa Marx-Lenin, của cách mạng tư sản phương Tây, có cả tư tưởng từ bi của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, có cả tư tưởng bác ái của Đức chúa Zesu, có cả tư tưởng nhân nghĩa của Đức Khổng Tử, có cả Chủ nghĩa Tam dân của cụ Tôn Dật Tiên,… Bác kế thừa những tư tưởng tiến bộ của các bậc cách mạng tiền bối của Việt Nam.

Bác Hồ chọn Quốc tế III là vì mục đích giải phóng dân tộc trước nhất, các vấn đề khác hạ hồi phân giải, vì dân tộc chưa được giải phóng thì vạn năm giai cấp cũng chưa được giải phóng. Đấy là sự lựa chọn sáng suốt mang tính lịch sử. Bác ở trong dòng thác đó song vẫn độc lập trong chừng mực có thể vì mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc trên nền dân chủ cộng hòa.

Do đó, khi xây dựng Đảng, tôi đề nghị trở về với Lý luận –  Hành động, với Tư tưởng – Minh triết Hồ Chí Minh làm nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta. Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển.

Theo đánh giá của ông, người dân đã thực sự được làm chủ như mong nguyện của Bác Hồ chưa?

Theo luật pháp thì dân ta là người chủ đích thực của đất nước. Song đến nay dân ta mới được bầu và bãi miễn đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, bầu và bãi miễn Đại biểu Quốc hội, bầu và bãi miễn trưởng thôn. Chúng ta đều biết, chất lượng bầu cử còn thấp, còn việc bãi miễn thì hầu như chưa làm được bao nhiêu, nguyên nhân thì có nhiều.

Dân ta chưa được phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia thông qua trưng cầu dân ý. Tuy Hiến pháp 1946 đã ghi song chưa thực hiện được vì chiến tranh đã xảy ra ngay sau đó. Đến các Hiến pháp sửa đổi sau này lại bỏ quyền đó của dân mà Quốc hội tự giao cho Quốc hội có quyền lập hiến và lập pháp.

Dân ta cũng chưa có quyền lựa chọn cương lĩnh phát triển đất nước và người đứng đầu đất nước thông qua tranh cử trong tổng tuyển cử. Các hình thức hoạt động tự nguyện của các cộng đồng, các tầng lớp nhân dân nhằm phát huy mọi nguồn lực và góp phần phản biện xã hội theo hướng xây dựng xã hội dân sự còn nghèo nàn và hạn chế. Nạn hành chính giấy tờ quan liệu, nhũng nhiễu còn khá nặng nề,…

Nghĩa là còn rất nhiều quyền dân chủ đương nhiên của một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nay là nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà nhân dân ta đến nay vẫn chưa được hưởng một cách trọn vẹn.

Đã có lần ông đã nói về sự phân quyền, vậy phân quyền trong thể chế Đảng lãnh đạo toàn diện nên được hiểu thế nào?

Hiến pháp và Pháp luật đã ghi rất rõ: Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng. Song trong thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ chị, nghị quyết của Đảng mới là tối thượng. Thực chất chúng ta có hai hệ thống quyền lực song song, đó là hệ thống của Đảng và hệ thống Nhà nước đi kèm theo là hai hệ thống tòa nhà của hai cơ quan đảng và nhà nước cồng kềnh chưa từng có. Đây là mô hình của cộng hòa Xô Viết. Thông lệ quốc tế không có như vậy.

Quốc hội là nhánh lập pháp có quyền lực cao nhất, song cũng còn nhiều hình thức, thực chất là Trung ương, Bộ Chính trị quyết.

Chính phủ là nhánh hành pháp song cũng rất yếu, chủ yếu là chấp hành chỉ thị nghị quyết của Đảng.

Chủ tịch nước từ chỗ tập trung thực quyền như khi Bác Hồ đảm nhận, ngày nay đã dần trở thành hình thức, nghi lễ. Quyền của nguyên thủ quốc gia bị phân tán ra làm ba nơi, ba người nắm giữ, đó là Tổng Bí thư thống lĩnh lực lượng vũ trang, Thủ tướng đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch nước đại diện cho Nhà nước về đối nội và đối ngoại nhưng không thực quyền.

Tòa án là nhánh tư pháp lại càng yếu thế.

Cả ba nhánh quyền lực đều đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Ban lãnh đạo Đảng (Bộ Chính trị – Ban Chấp hành Trung ương).

Quyền lực nhà nước được phân công ra làm ba nhánh song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy, Đảng trở thành ông vua tập thể rồi. Không phải dân chủ nữa mà là đảng chủ rồi. Mô hình của cộng hòa Xô Viết là như vậy. Đây là cái sai từ gốc về hệ thống tổ chức quyền lực gây nên lỗi của hệ thống cần phải được khắc phục theo quy luật phổ quát là phân chia ba nhánh quyền lực nhà nước một cách rạch ròi, minh bạch, thống nhất theo Hiến pháp và Pháp luật, tức là thống nhất ở nơi dân, (tam quyền phân lập).

Nếu chúng ta hiểu ba nhánh quyền lực nhà nước đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng đã được thể chế hoá trong Hiến pháp và Pháp luật là đúng, còn nếu hiểu thống nhất trực tiếp ở ban lãnh đạo hoặc cá nhân lãnh đạo cụ thể nào đó thì lại là sai, lại là có vua cộng sản mất rồi, dân chỉ còn là người chủ  hình thức, nhà nước trở thành công cụ của đảng chứ không phải công cụ của dân nữa rồi. Mọi chủ trương chính sách của đảng phải được cụ thể hoá bằng Hiếp pháp và Pháp luật. Chấp hành Hiến pháp và Pháp luật là chấp hành sự lãnh đạo của Đảng. Xã hội sẽ được nhà nước quản trị bằng pháp luật, chứ không quản trị bằng chỉ thị, nghị quyết trực tiếp của đảng. Pháp luật là tối thượng.

Một trong những biểu hiện dân chủ trong xã hội đó là việc chọn lựa cụ thể qua lá phiếu. Theo ông, lá phiếu của chúng ta hiện nay đã thể hiện được tính dân chủ của nó đến mức nào rồi?

Theo nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng thì ở Quốc hội, ở Hội đồng nhân dân, đảng viên phải bỏ phiếu theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng, làm đúng như ở các nước có đa đảng tham chính. Như vậy có đúng với bản chất của Đảng và Nhà nước ta không? Đảng của dân, Nhà nước cũng của dân cơ mà?

Ở Việt Nam, Đảng ta không phải tranh giành lá phiếu với đảng nào cả mà chỉ là lá phiếu của những đảng viên, của những người đại biểu nhân dân tán thành hay không tán thành một điểm nào hay cả chủ trương, chính sách nào đó của Ban lãnh đạo Đảng, có khi chỉ là ý kiến của một người có trọng trách trong Đảng, (không được nhầm lẫn với Đảng nói chung).

Ở nước có đa đảng tham chính, khi tranh cử nguyên thủ quốc gia, đảng nào chuẩn bị đưa người ra tranh cử phải có quy trình tranh cử trong nội bộ đảng để chọn người xuất sắc của đảng mình ra tranh cử với đảng khác. Người ra tranh cử phải có cương lĩnh tranh cử, cử tri sẽ căn cứ vào cương lĩnh  tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh đó của các đảng để lựa chọn cương lĩnh và người đứng đầu đất nước, khi đó cương lĩnh của đảng thắng cử sẽ trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước, người đứng đầu đảng thắng cử sẽ trở thành nguyên thủ quốc gia. Còn khi bỏ phiếu về vấn đề quan trọng nào đó thì thông thường các Đảng họ quy định đảng viên của Đảng đó phải bỏ phiếu theo lập trường của Đảng đó. Vì đây là các Đảng tranh giành lá phiếu với nhau, tranh giành lợi ích cho Đảng mình.

Nếu ta làm như các Đảng ở các nước có đa Đảng tham chính thì chẳng hóa ra Đảng ta tranh giành lá phiếu với dân à? Mà điều đó là điều không thể hiểu được, vì nó trái với bản chất của Đảng, rằng Đảng ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Đảng lãnh đạo chứ không quyết thay nhân dân.

Trong thực tiễn đã có rất nhiều trường hợp đảng viên trong Quốc hội, kể cả ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, cán bộ cao trung cấp của Đảng đã bỏ phiếu thuận theo lòng dân, không theo chỉ thị nghị quyết của Bộ chính trị, của Ban chấp hành TƯ và đã được Đảng và Nhà nước chấp nhận, nhân dân đồng tình và hoan nghênh. Đó là điều Đảng ta cần và phải làm khác với các đảng ở các nước có nhiều đảng tham chính để phát huy dân chủ thật sự trong đảng, trong xã hội.

Chỉ có một Đảng duy nhất tham chính, theo ông chúng ta nên làm thế nào để có dân chủ thực chất?

Nếu chúng ta chỉ đưa ra một cương lĩnh, một người ra ứng cử như một đảng của các nước có đa đảng tham chính, thì sẽ không có tranh cử, dân sẽ không có cơ hội lựa chọn cương lĩnh và nguyên thủ. Làm như lâu nay thì chưa thật dân chủ trong Đảng, cũng chưa thật dân chủ trong dân, còn mang nhiều tính hình thức, thụ động, dân ít quan tâm.

Như tôi đã nói trong một cuộc trò chuyện với Tuần Việt Nam hồi năm ngoái, dân chủ là phải có tranh cử, phải công khai minh bạch,.. để có sự lựa chọn trong Đảng và trong xã hội, sẽ thu hút được sự quan tâm xây dựng nhà nước của đông đảo nhân dân. Dân chủ không đồng nhất với đa Đảng. Mất dân chủ không đồng nhất với một Đảng. Dân chủ là dân phải được lựa chọn cả cương lĩnh, cả nhân sự, dân phải được phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Khi nào có sự lựa chọn dân chủ thật sự như vậy là có dân chủ thực sự trong xã hội.

Trong Đảng ta có thể có nhiều đồng chí đưa ra những cương lĩnh tranh cử khác nhau, dăm ba cương lĩnh chẳng hạn, sau đó trong Đảng lựa chọn ra hai ba cương lĩnh tranh cử để đưa ra dân lựa chọn, như sự tranh cử trong nội bộ một Đảng của các nước có đa đảng tham chính. Như vậy, dân sẽ có cơ hội lựa chọn cương lĩnh tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh để trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước và nguyên thủ quốc gia trong một nhiệm kỳ xác định.

Dân chủ trong Đảng gắn với dân chủ trong dân, trong xã hội sẽ tạo ra sự đồng thuận giữa Đảng và Nhà nước và Nhân dân. Ý Đảng lòng dân là một. Khối đại đoàn kết sẽ được củng cố và tăng cường trong thực tiễn. Dân chủ có lãnh đạo đúng đắn, không ai làm thay ai, đó chính là nguồn sức mạnh vô địch cho sự sáng tạo và phát triển, là sự sống còn của Đảng và chế độ.

Như tôi đã nói trong các câu trả lời ở trên, vấn đề dân chủ và trách nhiệm trong quản trị hành chính của nhà nước ta còn nhiều vấn đề tồn tại lớn cần phải được nghiên cứu giải quyết, nhất là về vai trò lãnh đạo của Đảng, để phát huy đầy đủ sức mạnh của bộ máy quản trị hành chính nhà nước, phát huy đầy đủ sức mạnh của nhân dân – người chủ đích thực của đất nước.

Trong bài viết mới đây nhất, ông có cho rằng đã đến lúc phải xây dựng luật về Đảng?

Đúng. Trước đây, khi Đảng chưa cầm quyền, khi Đảng còn đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân thì Đảng hoạt động ngoài vòng pháp luật, chống lại pháp luật của chính quyền thực dân phong kiến.

Ngày nay Đảng ta đã trở thành Đảng cầm quyền rồi, thì không được làm như trước nữa, mà phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật và hoạt động theo luật về Đảng. Song tiếc rằng đến nay Đảng ta vẫn chưa có luật về Đảng. Do vậy không tránh khỏi một số trường hợp Đảng vẫn đứng trên Nhà nước, đứng trên pháp luật. Người ta gọi như vậy là Đảng trị. Chúng ta đã khắc phục được nhiều rồi, song vẫn còn những thói quen về cách làm việc cũ, như khi Đảng chưa cầm quyền, khi chính quyền Nhà nước còn non trẻ.

Ngày nay nhà nước ta đã trưởng thành, đã là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đảng ta là Đảng cầm quyền đã được ghi trong Hiến pháp, song chưa được cụ thể hóa thành luật, Quốc hội phải sớm ban hành luật về Đảng, khi đó Đảng sẽ không còn bao biện, làm thay Nhà nước, Đảng cũng sẽ không buông lỏng lãnh đạo. Đảng sẽ hoạt động lãnh đạo hợp Hiến và hợp pháp.

Xin được hỏi câu cuối, theo ông tư tưởng chủ đạo để hoàn thiện các văn kiện trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI là gì?

Đó là Tư tưởng – Minh triết Hồ Chí Minh, là Lý luận – Hành động Hồ Chí Minh đã được thể hiện trong Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945, trong Hiến pháp năm 1946, trong di chúc thiêng liêng của Bác…, trong lời nói và việc làm của Bác. Cụ thể là:

1- Quán triệt tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc;

2- Bảo đảm phát huy tự do dân chủ, dân là người chủ đích thực của đất nước, dân phải được phúc quyết Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia;

3- Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vững mạnh, pháp luật là tối thượng, quyền lực nhà nước là của dân, thống nhất ở nơi dân, thể hiện trong Hiến pháp và Pháp luật theo mô hình phổ quát phân chia ba nhánh quyền lực nhà nước một cách rạch ròi, minh bạch (tam quyền phân lập).

4- Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội Việt Nam nhưng không được tự cho mình là đương nhiên, mãi mãi, mà Đảng phải giành quyền lãnh đạo thông qua tranh cử trong Đảng và ngoài Xã hội. Đảng phải hoạt động hợp pháp, theo Luật về Đảng do Quốc hội ban hành.

*
**

Với Đại hội VI, Đảng ta đã vượt lên chính mình, thông minh và dũng cảm mở đột phá khẩu để thoát ra khỏi lỗi hệ thống.

Từ đó tới nay chúng ta đã đi được quãng đường khá dài, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, với  xu thế không thể đảo ngược.

Hy vọng rằng, với Đại hội XI, XII, đảng ta sẽ tiếp tục vượt lên chính mình để thoát khỏi lỗi hệ thống một cách triệt để và hoàn toàn.

*
*  *

Khi nói Đảng bao biện làm thay Nhà nước thì có vẻ nhẹ nhàng như không có vấn đề gì nghiêm trọng cả, nó đã hình thành thói quen, chai lỳ, bình thường. Song khi chúng ta dùng ngôn ngữ của Nhà nước pháp quyền, ngôn ngữ của pháp luật thì lại là vấn đề có ý nghĩa về bản chất của Nhà nước pháp quyền rồi. Khi chúng ta so việc làm đó với hiến pháp và pháp luật, so với cương lĩnh và điều lệ Đảng thì hành động bao biện làm thay lại là hành động vi phạm Hiến pháp, vi phạm pháp luật của Nhà nước, vi phạm cả Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng. Thế thì lại là vấn đề quá to rồi, quá nghiêm trọng rồi.

Khi nói Đảng buông lỏng lãnh đạo thì có vẻ như Đảng đứng ngoài Nhà nước mà thật ra Đảng ta là Đảng cầm quyền, chỉ có người đứng đầu cấp ủy các cấp, từ Tổng bí thư đến Bí thư cấp ủy các cấp hành chính thường không tham gia ứng cử chức danh đứng đầu cơ quan hành pháp nhà nước cùng cấp, nên đôi khi gây ấn tượng như vậy, nhất là khi có ý kiến khác nhau giữa đồng chí Bí thư với đồng chí Phó bí thư – Chủ tịch Ủy ban cùng cấp.

Nơi nào đồng chí Bí thư cấp ủy mạnh, nổi trội hơn thì thường có hiện tượng đồng chí Bí thư bao biện làm thay Chủ tịch. Ngược lại, nơi nào đồng chí Chủ tịch Ủy ban mạnh, nổi trội hơn thì dễ có cảm giác Đảng buông lỏng lãnh đạo, đồng chí Chủ tịch lại bí đánh giá là coi thường vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thật ra không phải như vậy, vì đồng chí Chủ tịch cũng thường là đồng chí Phó bí thư cấp ủy cùng cấp cơ mà. Ý kiến khác nhau là ý kiến giữa hai đồng chí Bí thư và đồng chí Phó bí thư (chủ tịch Ủy ban nhân dân) trong cùng một cấp ủy, không phải là ý kiến khác nhau giữa Đảng và Nhà nước. Nếu người đứng đầu cấp ủy ứng cử chức danh đứng đầu Nhà nước thì sẽ khắc phục hiện tượng bao biện làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo.

Một vấn đề nữa cũng rất quan trọng trong vấn đề dân chủ là Đảng tự xác định vị trí vai trò của mình như thế nào đối với nhà nước, với xã hội, với mặt trận và các đoàn thể khác. Đảng là một thành viên của mặt trận, một chủ thể trong hệ thống chính trị, song Đảng là lực lượng chính trị lãnh đạo nhà nước và xã hội, lãnh đạo mặt trận và các đoàn thể. Nhưng vai trò lãnh đạo đó của Đảng có phải là đương nhiên không? Có phải mãi mãi không?.

Khi nói về mặt trận, Bác Hồ có nói rằng: “Đảng không thể đòi hỏi mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình mà phải tỏ ra là bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đứng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5. NXB Sự Thật 1983, Tr 115).

Bác Hồ nói về địa vị lãnh đạo của Đảng đối với mặt trận cũng tức là nói với cả các đoàn thể khác, nói với cả nhà nước và xã hội.

Đây là điều rất khác so với khi Đảng chưa cầm quyền. Nếu Đảng ta nhận thức đúng địa vị của mình như thế, nhà nước và nhân dân ta hiểu đúng vai trò của Đảng như thế thì vấn đề dân chủ trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội sẽ có bước tiến rất to lớn và rất cơ bản. Nếu Đảng coi mình đương nhiên là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì Đảng sẽ trở thành ông Vua tập thể, ông Vua cộng sản mất rồi. Như vậy là Đảng chủ, Đảng toàn trị chứ không phải dân chủ nữa. Và như vậy thì Đảng sẽ không chăm lo xây dựng chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, sẽ không chăm lo đúng mức tới việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, khi đó những hiền tài trung thực sẽ không được tin dùng, người cơ hội, nịnh hót sẽ lọt vào cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng và nhà nước, và như vậy là Đảng lại đi vào con đường suy thoái như các triều đại Vua chúa thời quân chủ mất. Và đấy là con đường diệt vong của Đảng. Chúng ta cần nhìn lại cái gương của các đảng cộng sản ở Đông Âu và Liên Xô (cũ) để kịp sửa lại mình khi còn có cơ hội.

Cho nên vị trí, vai trò của Đảng phải trở lại đúng với tư tưởng của Bác Hồ, đó cũng là qui luật phổ quát mà các nước văn minh trên thế giới vận dụng để lựa chọn người hiền tài và bắt buộc người hiền tài phải tuân theo pháp luật nhằm mục đích bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc và kịp thời thay thế bằng phương pháp hòa bình nếu người đó vi phạm tiêu chuẩn và pháp luật.

 

 

Câu chuyện ở Trịnh Nguyễn

theo Nguyễn Tường Thụy’s Blog

Trưa ngày 17-6-2013, tôi có mặt tại Trịnh Nguyễn – phường Châu Khê, TX Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh nơi có dự án nhà máy xử lý nước thải.

Bà con thấy người lạ liền hỏi:

–  Anh ở đâu vào đây?

Tôi trả lời:

–  Được biết thông tin trên mạng mấy ngày qua chính quyền đã huy động công an đến cưỡng chế khu đất này. Tôi đến để tìm hiểu sự việc.

Một chị phụ nữ bảo:

–  Nếu anh muốn tìm hiểu sự việc , anh có thể vui lòng cho chúng tôi xem giấy tờ tùy thân của anh có được không, thời buổi bây giờ người ngay kẻ gian hó phân biệt lắm.

Tôi vui vẻ lấy chứng minh thư nhân dân cho chị xem và giới thiệu danh tinh của mình. Xem xong chị dẫn tôi ra giới thiệu bà con. Bà con đón tiếp tôi rát niềm nở. Một cụ già nói:

–  Nhà báo ơi cứu chúng tôi với, chúng tôi khổ quá.

Tôi bảo:

–  Con không phải là nhà báo. Con đến tìm hiểu sự việc để đưa tin lên mạng thôi.

Các cụ kể tôi nghe về nhà máy xử lý nước thải ngay sát tại khu dân cư (việc này đã đăng trên blog Tễu khá chi tiêt tôi không kể lại nữa). Tôi chỉ nêu những sự việc xảy ra trong khi cưỡng chế. Khi bà con phản đối quết đinh của chính quyền, chính quyền đã có động thái hành xử vi phạm pháp luật như sau:

1. Cắt danh hiệu làng văn hóa trong thôn

2. Khai trừ các đảng viên không chịu nhận tiền đền bù

3. Đe dọa đuổi học các cháu học sinh tham gia giữ đất.

Để chứng minh những lời nói trên tôi đã cẩn thận quay video

Vào khoảng 14h chiều ngày 18-6-2013 chính quyền đã huy động các lực lượng khoảng  hơn 100 người, lực lượng cảnh sát cơ động nòng cốt. Họ tiến về khu đât đang bị cưỡng chế. Chiêng trống nổi lên ầm ầm. Bà con các thôn xóm đổ về rất đông. Khi lực lượng cảnh sát cơ động qua cầu, bị bà con phản đối quyết liệt không cho qua. Họ dùng thủ đoạn đánh kín: áp sát, dùng dùi cui thọc vào mạng sườn người dân. Một số bị thương phải đưa đi cấp cứu. Với các cháu nhỏ bị họ cố tình dùng giầy đinh dẫm lên chân. Một số người quay phim chụp ảnh bị họ cướp điện thoại. Nhưng với sự chống trả quyết liệt, ngăn cản của bà con, họ không qua được cầu. Cuối cùng họ phải rut quân vào lúc 18h30 cùng ngày.

19-6-2013 buổi sáng không có gì xảy ra, thỉnh thoảng có vào tiếng trống nổi lên thưa thớt. Tôi hỏi bà con: “Chắc họ kéo đến à?” Bà con nói chắc có vài đối tượng lạ vào khu cưỡng chế, báo động để mọi người cảnh giác.

Buổi chiều lúc 15h họ đưa lực lượng đến , bao gồm công an và chính quyền xã. dẫn đầu ông phó chủ tịch xã Trần Văn Thắng cầm loa bị bà con chặn ngay đầu cầu. Tất cả bà con ngồi xuống không cho họ đi qua , Ông phó chủ tịch đề nghị bà con tránh ra cho vào thu cờ cắm ở ruộng sai quy định . Bị bà con kịnh liệt phản đối. Mỗi lần ông nhấc loa lên nói, tiếng chiêng trống lại nổi lên làm át cả giọng nên ông không thể nói được. Ngoài con đường chính qua cầu ra còn có 2 hướng đi khác bị bà con chặn. 18h30′ họ mới chịu rút quân.

Một cụ già kể:

–  Khổ quá anh ạ! Năm nay tôi gần 80 tuổi, hơn 40 năm tuổi đảng, chồng tôi là liệt sĩ hi sinh cách đây 47 năm . Tôi chỉ có duy nhất 1 thằng con nên tôi ở vậy . Thờ chồng nuôi con, nhà chỉ có hơn 2 sào ruộng, tôi có ngờ đâu họ làm những chuyện thất đức như thé này . Cả cuộc đời thờ chồng nuôi con  bao nhiêu năm cống hiến, chỉ vì không chấp nhận giao đất cho họ bị họ khai trừ ra khỏi đảng. Chưa lúc nào tôi thấy khổ như bây giờ”.

Đang tiếp chuyện với cụ, có 1 cụ bà khác đến tự giới thiệu:

–  Năm nay tôi 95 tuổi, cũng gần đất xa trời .Tôi vẫn phải ra đây giữ đất cho con cháu .nếu tôi không giữ được, về sau có mệnh hệ gì, con cháu tôi sẽ oán trách tôi rằng: cụ chỉ vì tiền mà làm khổ con cháu. Cả cuộc đời tôi sống 2 chế độ chưa lúc nào khổ như bây giờ.

Nghe 2 cụ nói mà lòng tôi se thắt lại. Tôi nói 2 cụ:

–  Đây chỉ là bước đầu thôi, các cụ còn gặp nhiều gian nan lắm. Ngay tại Hà Nội có cụ ở tỉnh xa đi khiếu kiện hơn 20 năm ròng , ăn ở ngoài vỉa hề sống cảnh màn trời chiếu đất, thậm chí có cụ chết ngay tại vườn hoa.

Mải nói chuyện với các cụ thì trời đã tối .Tôi chào các cụ ra về.

.

Trương Văn Dũng

21/6/2012

“Nói với mình và các bạn”: Vẻ đẹp của chính trị

 
 
Chỉ còn không đầy một tháng nữa, công cuộc “toàn dân góp ý sửa đổi hiến pháp” sẽ kết thúc. Người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã tỏ rõ quan điểm rằng các đề nghị bỏ Điều 4 Hiến pháp, đa nguyên đa đảng, tam quyền phân lập và phi chính trị hoá quân đội, đều là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức. Đây là một cách bác bỏ Kiến nghị 72 do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng. Một kiến nghị khác, của các sinh viên và cựu sinh viên luật, yêu cầu huỷ bỏ thời hạn góp ý và tổ chức để nhân dân thực hiện quyền phúc quyết, chắc chắn sẽ chẳng hề được đếm xỉa.
 
Điều này đúng như một dự đoán phổ biến của dư luận, ngay từ đầu, rằng tất cả chỉ là một màn kịch. Từ quan điểm đó, đã có những tuyên bố sẽ không tham gia, không hưởng ứng, thậm chí không buồn theo dõi “trò hề”. Cũng có những ý kiến cho rằng người lên tiếng hoặc ký kết kiến nghị là ngây thơ về chính trị, ảo tưởng về Đảng, và là thiểu số giữa đại đa số người dân Việt Nam thờ ơ, xa lánh chính trị. 
 
Nhưng nếu bỏ qua những thứ gây bực mình và ức chế, như các phát biểu đầy lỗi nguỵ biện của người này kẻ kia, hay màn bút chiến của một số cơ quan truyền thông quốc doanh hàng đầu, liệu có thể nhìn vào một khía cạnh tích cực hơn, rằng đây là một dịp rất tốt để tất cả chúng ta cùng tìm hiểu về hiến pháp, về luật pháp, về tinh thần hợp hiến, về nhân quyền và dân quyền…? 
 
Người viết bài này còn mong muốn hơn thế nữa: Đây là một dịp khuyến khích tất cả chúng ta – những người dân Việt Nam, nhất là các bạn trẻ – thử quan tâm một chút đến chính trị xem sao?
 
Loạt bài sau đây, mang một tựa đề chung là “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”, nỗ lực để được là tập hợp một số bài viết có tính chất nhập môn cho độc giả, nhất là các bạn trẻ, về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất tuân dân sự.
Phạm Đoan Trang

 
* * *
 
Kỳ 1:
CHÍNH TRỊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG TA
 
Điều đầu tiên cần khẳng định là trong một xã hội tôn trọng đa nguyên, thì mọi người đều được tự do thích, theo đuổi, hoặc không thích, không theo đuổi cái gì đó. Nghĩa là người có thể đi làm kinh doanh, kẻ thì dấn thân cho sự nghiệp khoa học, một số khác lại đam mê nghệ thuật. Không nhất thiết ai cũng phải lao vào các hoạt động “vì cộng đồng” hoặc phải hăng hái đọc báo, xem tivi, nghe đài, hăng hái bàn luận về những vấn đề vĩ mô… Không phải nhất định chỉ có xả thân và cống hiến, “là con của vạn nhà, là em của vạn kiếp phôi pha” thì mới được xem là có “thời thanh niên sôi nổi” và tươi đẹp. (Nhưng tất nhiên, cũng phải thừa nhận là giữa các ngành nghề, các nhóm công việc khác nhau, có những nghề mang lại sự thú vị cao hơn cho người thực hành chúng – mà chính trị là một trong số đó).
 
Song, có một khoảng cách giữa thái độ không thích, không quan tâm, không dây dưa (đó là quyền của bạn, và là điều được chấp nhận, trên tinh thần đa nguyên), và sự kém hiểu biết về chính trị (có thể dẫn đến sự vô cảm).
 
Chính trị là quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng bất kỳ, có thể ở quy mô một xã hội, đất nước. Bạn sẽ thấy ngay rằng, mâu thuẫn, xung đột là một phần tất yếu của quá trình ấy; hay nói cách khác, một trong các đặc điểm của chính trị là sự mâu thuẫn, xung đột. Chẳng quyết định nào, chẳng chính sách nào có thể đạt được đồng thuận. Vấn đề của tất cả mọi người là làm thế nào để giảm bớt tác hại của mâu thuẫn, xung đột ấy, dù không phải là triệt tiêu nó; nhưng đấy là chủ đề của những bài viết khác. Ở đây, chúng ta biết rằng chính trị thì phải mâu thuẫn.
 
Một nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, ông Austin Ranney (1920-2006), từng viết: “Chắc chắn, trong bất kỳ xã hội nào, cũng có rất nhiều mâu thuẫn trong những lĩnh vực ngoài chính trị, như kinh tế, học thuật, thể thao, và hôn nhân. Cái chính là không một xã hội nào – truyền thống hay hiện đại, tiến bộ nhiều hay ít, dân chủ hay độc tài – lại hoàn toàn không có mâu thuẫn chính trị cả. Và trong xã hội hiện đại, mọi mâu thuẫn xoay quanh vấn đề giá trị (cái gì tốt hay xấu, tốt nhiều hay tốt ít, xấu nhiều hay xấu ít, lợi hay hại, nên hay không nên… – ND) sớm muộn đều trở thành mâu thuẫn chính trị”. 
 
Mà cuộc sống của bạn thì lại luôn đầy những xung đột, mâu thuẫn phải giải quyết. Nói cách khác, bạn luôn phải đối diện và xử lý mâu thuẫn.
 
Thế nghĩa là dù làm gì, bạn cũng không thoát khỏi tầm ảnh hưởng của chính trị được đâu.
 
Ngay trong lớp bạn, trường bạn, Ban Giám hiệu thay toàn bộ giảng viên từng du học ở Liên Xô bằng giảng viên học ở Mỹ về, đã là một quyết định chính trị ảnh hưởng đến bạn rồi. Bạn vận động thầy cô, bạn bè, để nam và nữ sinh viên đều có thể bơi chung bể trong môn thể dục hoặc ngược lại, nhất định phải tách riêng họ ra, đã là làm chính trị rồi.
 
Trong cơ quan, bạn khen ngợi anh A, ném đá chị B, dìm cô C, nâng chú D, để cho sếp chú ý đến bạn hơn một chút, hoặc để các đồng nghiệp yêu quý bạn hơn, đều là làm chính trị cả. Kể cả bạn quyết định không tham gia bè phái, chỉ tập trung chuyên môn thôi, đó cũng là một quyết định có tính chất chính trị và ngay cả khi ấy thì bạn cũng vẫn sẽ chịu ảnh hưởng từ sếp, từ đồng nghiệp, từ các chính sách của cơ quan.
 
Chính trị bao trùm như thế. Vấn đề là điều ấy không xấu như bạn nghĩ. Nếu bạn vận động thành công để trường lớp, cơ quan, tổ dân phố, ra những chính sách có lợi cho bạn và những người bạn ưu ái, thì bạn sẽ thấy chính trị tốt quá, phải không? Và có một nghịch lý thú vị mà Austin Ranney chỉ ra, là trong khi người ta khinh ghét chính trị gia, coi chính trị là bẩn thỉu, thì người ta cũng lại ngưỡng mộ các vị lãnh đạo nhà nước, các nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ, và luôn thấy họ đẹp, họ đúng, họ sáng suốt…
 
Vậy vì sao bạn không quan tâm đến chính trị, đến công cuộc sửa đổi hiến pháp – đạo luật “nguồn của mọi đạo luật”? Chúng ảnh hưởng đến bạn kia mà.
 
 

Kỳ sau: Nhưng đừng lên án người vô cảm! 

Tự do báo chí kiểu Việt Nam (kỳ 2)

Đoan Trang 
 
 Như đã nói trong bài trước, “hơn ai hết, Đảng – mà đại diện ở đây là bộ máy tuyên giáo và an ninh – ý thức được sức mạnh của sự bí mật. Công khai, minh bạch là tự làm mất mặt mình, tự giết mình”. Chính vì vậy, để bảo vệ chế độ, điều tối quan trọng là phải bảo đảm… bí mật, từ bí mật công tác đến an ninh quốc gia. Để làm được điều đó, nguyên tắc căn bản chỉ là “làm tốt công tác tư tưởng” và quản lý báo chí thật chặt chẽ, sát sao.

  

Nhưng đến khi Internet và nhất là mạng xã hội xuất hiện, thì nhiệm vụ trở nên khó khăn hơn. Từ đây, bộ máy tuyên giáo và an ninh vừa phải quản lý báo chí chính thống, vừa phải kiểm soát truyền thông “phi chính thống”, tức thế giới mạng.
 
Duy trì chế độ thẻ nhà báo
 
Một phương thức tinh vi để kiểm soát báo chí dưới mỹ từ “quản lý” là sử dụng chế độ thẻ nhà báo. Sáng kiến này được áp dụng đã từ lâu, tới năm 2007 thì được luật hoá trong một thông tin gọi là Thông tư số 07/2007/TT-BVHTT hướng dẫn cấp, đổi và thu hồi thẻ nhà báo, Bộ Văn hóa – Thông tin, ngày 20/3/2007. Theo đó, người được xét cấp thẻ nhà báo phải bảo đảm các điều kiện và tiêu chuẩn sau đây:
 
a) Tốt nghiệp đại học; trường hợp là người dân tộc thiểu số đang công tác tại cơ quan báo chí miền núi hoặc chương trình phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc thiểu số phải có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên;
 
b) Có thời gian công tác liên tục theo chế độ biên chế hoặc hợp đồng dài hạn tại cơ quan báo chí đề nghị cấp Thẻ từ ba năm trở lên, tính đến thời điểm xét cấp thẻ;
 
c) Hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan báo chí phân công;
 
d) Không vi phạm quy định về phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp báo chí; không bị xử lý kỷ luật từ khiển trách trở lên trong thời hạn 12 tháng tính đến thời điểm xét cấp thẻ;
 
e) Ðược cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, Sở Văn hóa – Thông tin (đối với báo chí các tỉnh, thành phố) và Hội Nhà báo cùng cấp thống nhất đề nghị cấp thẻ nhà báo.
 
Các điều kiện trên (trừ khoản a) đều khó thực hiện trong thực tế. Xét bản chất, nghề báo là nghề có tính lưu động cao, các phóng viên “nhảy việc” gần như liên tục, khó mà có người “công tác liên tục theo chế độ biên chế hoặc hợp đồng dài hạn (…) từ ba năm trở lên”. Cho nên khoản b là khó đáp ứng. Các khoản còn lại thì đương nhiên chỉ nhằm khuyến khích các phóng viên biết chấp hành, chịu khó tuân theo chủ trương, định hướng của Đảng và Nhà nước; không có chỗ cho những phóng viên sáng tạo, nhiệt huyết, có tinh thần phản biện và luôn luôn sẵn sàng “xé rào”, chống lại định hướng của Đảng. (Xin lưu ý, đạo đức nghề nghiệp báo chí, theo quy định về đạo đức nghề nghiệp của người làm báo Việt Nam, đưa ra tại Đại hội VIII Hội Nhà báo là: “Tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”.)
 
Riêng khoản e, “Được cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí, Sở Văn hóa – Thông tin (đối với báo chí các tỉnh, thành phố) và Hội Nhà báo cùng cấp thống nhất đề nghị cấp thẻ nhà báo” còn cho thấy sự nhập nhằng giữa khu vực nhà nước và khu vực xã hội dân sự. Báo chí về bản chất là một khái niệm thuộc về xã hội, và cơ quan báo chí không phải là cơ quan thực thi công vụ. Nhà nước không thể đứng ra cấp thẻ nhà báo để định danh cho người tiến hành hoạt động nghề nghiệp này; nói cách khác, Nhà nước không được lấn sân, chiếm lấy một lĩnh vực không phải của mình. Nhưng Nhà nước lại cứ giành lấy quyền ấy, thậm chí còn cẩn thận quy định rõ trong luật, rằng báo chí có nhiệm vụ “tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí…”.
 
Chính điều này dẫn đến việc nhiều nhà báo buộc phải “chấp nhận sự định hướng của một lực lượng mà năng lực truyền thông hẳn nhiên là thua xa họ” (trích “Giọt nước mắt của lề phải”).
 
“Nhà báo tự do” = phản động
 
Nhiều người thường nói rằng thẻ nhà báo chỉ là một cái thẻ, không quan trọng. Nhưng trên thực tế, nó rất quan trọng, vì trong luật pháp cũng như trong nhận thức của xã hội, nhà báo phải là người “đang hoạt động hoặc công tác thường xuyên với một cơ quan báo chí Việt Nam và được cấp thẻ nhà báo” (Điều 14 Luật Báo chí).
 
Người chưa/không được cấp thẻ thì không được công nhận là nhà báo. Từ đây dẫn đến việc họ đương nhiên bị gạt ra khỏi bất kỳ sự kiện nào mà ban tổ chức, cơ quan an ninh, chính quyền… không muốn bị báo chí biết. Ở rất nhiều hội thảo, hội nghị, sự kiện chính trị – xã hội, ban tổ chức luôn đặt điều kiện “phải có thẻ nhà báo” mới gửi giấy mời. Bằng cách này, ban tổ chức đã loại ra ngoài đông đảo phóng viên, là những người hoạt động báo chí y hệt như nhà báo nhưng không được cấp thẻ.
 
Công an, an ninh, hơn ai hết, là những người được quán triệt chặt chẽ rằng phải có thẻ do Nhà nước cấp mới được gọi là nhà báo, điều này đồng nghĩa với việc tất cả những người đang hoạt động báo chí mà không có thẻ thì đều là “phóng viên tự do”, “tự xưng/ mạo nhận”, và đều có thể bị ngăn chặn triệt để, không được phép tiếp cận thông tin. Ngày 30/10/2012, khi phóng viên Truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, Huyền Trang, bị công an đưa về đồn thẩm vấn, cô nói cô là phóng viên. Nhân viên công an liền quát: “Ai công nhận chúng mày là nhà báo hả? Thẻ tác nghiệp của chúng mày đâu? Một lũ ăn không ngồi rồi, rồi rủ nhau phản động hả?”.
 
Riêng trong hai năm 2011 và 2012, trên cả nước đã xảy ra hàng chục vụ phóng viên bị đánh. Thủ phạm là lưu manh côn đồ, bảo vệ, vệ sĩ, công an, và cả dân thường. Nhưng trong tư duy của chính quyền, nạn nhân nếu chưa có thẻ thì không phải là nhà báo, do vậy sự việc không nghiêm trọng tương đương với “hành hung nhà báo.”
 
Với blogger, tình hình còn tệ hại hơn: Họ không những không được pháp luật bảo vệ mà ngược lại, còn bị xử lý. Điếu Cày, Tạ Phong Tần, và tất cả các thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do đều “không phải là nhà báo”, nên bị cơ quan công an, an ninh xua đuổi, đàn áp thẳng tay khi họ có mặt tại các điểm nóng để đưa tin, dù chỉ là lên blog của họ.
 
Một mặt, Đảng và Nhà nước xiết chặt việc “nắm tư tưởng”, “định hướng” báo chí chính thống. Mặt khác, Đảng và Nhà nước nhất định không công nhận blogger là nhà báo.
 
Làng báo chính thống và blog chính trị ở Việt Nam đều biết đến Trương Duy Nhất, người từng bỏ nghề báo để trở thành blogger, chủ trang mạng “Một góc nhìn khác”. Sau khi ông Nhất bị bắt ngày 26/5/2013, nhà báo Đức Hiển (Facebooker Bố Cu Hưng) bình luận trên Facebook cá nhân rằng “vấn đề của một nhà báo là phải có thông tin. Khi thiếu khả năng hoặc cơ hội tiếp cận thông tin thì góc nhìn nếu khác là chửi đổng mà nếu giống là a dua…”.
 
Cộng đồng FB và blog chính trị rộ lên một đợt chỉ trích nhà báo Đức Hiển. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ của chính quyền thì ông Đức Hiển nói đúng. Khả năng và cơ hội tiếp cận thông tin chính là cái khác biệt giữa nhà báo và blogger, giữa nhà báo chính thống và nhà báo tự do. Blogger không thể nào có mặt ở các sự kiện chính trị-xã hội quan trọng do Nhà nước tổ chức, không thể nào tham dự hội thảo, hội nghị quốc gia, quốc tế, không thể nào tiếp cận quan chức cấp cao của Đảng và Nhà nước. Và chính quyền ý thức được rằng phải khoét sâu vào điểm yếu ấy của blogger thì mới giữ nền báo chí công dân ở thế yếu hơn báo chí cách mạng được. Song song với đó là việc tạo cuộc chiến vô hình “lề phải – lề trái” để ngăn chặn mọi sự hợp tác, bắt tay nhau giữa nhà báo quốc doanh và nhà dân báo.
 
Đừng để bị “phản động lợi dụng”
 
Để tạm kết thúc hai bài viết sơ lược về tự do báo chí kiểu Việt Nam (chuyện dài kỳ), xin sử dụng một đoạn hội thoại – thẩm vấn điển hình cho tư duy của chính quyền về báo chí và hoạt động của nhà báo trong chế độ xã hội chủ nghĩa:
 
AN: Anh Y. ạ, hiện chúng tôi đang làm rõ động cơ, mục đích đằng sau một số bài viết trên blog của anh.
 
Blogger: Tôi phản đối việc bắt giữ tuỳ tiện. Như tôi đã nói, các bài viết của tôi chỉ có mục đích xây dựng, đóng góp cho Đảng một ý kiến phản biện ôn hoà.
 
AN: Không ai cấm anh phản biện, đóng góp ý kiến xây dựng Đảng. Nhưng anh có thể chọn những cách khác, hiệu quả hơn.
 
Blogger: Tôi không đồng ý. Thế nào là hiệu quả hơn? Tôi là blogger, tôi nói lên ý kiến của mình qua công cụ blog của tôi thì sao?
 
AN (cười độ lượng): Đấy, anh lại thế rồi. Tôi đã nói rồi, không ai cấm anh phản biện, đóng góp ý kiến xây dựng cả. Nhưng mình là trí thức, là người có ăn có học, nói gì thì nói, phải có cơ sở anh ạ, phải có lý có lẽ, có thông tin, thuyết phục, chứ không phải thích gì nói nấy. Cứ thích thì nói nấy thì anh thành ra mấy cái đứa blogger phản động trên mạng à?
 
 Blogger: Tôi là nhà báo. Tôi có cách tiếp cận và xử lý thông tin của tôi.
 
AN (nhấn mạnh): Anh không phải nhà báo. Anh làm gì có thẻ tác nghiệp, hả? Nhà báo tự do à? Điếu Cày à?
 
Blogger: Nhà báo thì sao mà không là nhà báo thì sao? Không lẽ chỉ nhà báo mới được viết? Mà luật nào cấm blogger được viết? Hiến pháp của chúng ta cũng đã quy định…
 
AN (ngắt lời): Khổ. Anh lại cực đoan rồi, anh Y. Tôi đã nói rất rõ là nói gì thì nói, viết gì thì viết, phải có thông tin xác thực, lập luận thuyết phục trên cơ sở xây dựng anh ạ. Anh xưng anh là nhà báo thì lại càng phải thế, phải có trách nhiệm với những gì mình viết chứ. Anh xem lại các bài viết của mình mà xem, toàn là những bài hết sức cực đoan, phiến diện vì thiếu thông tin.
 
Blogger: Thế anh nói “có những cách hiệu quả hơn để đóng góp ý kiến” là những cách gì?
 
AN: Nếu thực sự anh có tinh thần xây dựng, muốn đóng góp ý kiến xây dựng Đảng thì anh sẽ tìm ra cách. Thiếu gì cách. Ví dụ – đây là tôi lấy ví dụ thôi nhé – anh có thể gửi thư riêng đến các đồng chí lãnh đạo cao cấp. Chứ ai lại đi đưa lên blog công cộng như thế cho mấy đứa trên mạng nó đọc, rồi nó lợi dụng, nó bàn ra tán vào này nọ. Mình thấy nó hưởng ứng mình, mình tưởng thế là hay, chứ thực ra bọn nó chỉ lợi dụng mình thôi. Anh xem đấy, đến lúc anh bị bắt thì đứa nào giúp anh? Từ giờ phút này là chỉ có anh mới cứu được anh thôi, anh Y…
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả
……………………………………………….
Bản tiếng Anh:
 THE VIETNAMESE STYLE OF MEDIA CONTROL (PART 2)

As written in the first part, “more than anyone else, the Communist Party – herein represented by the propagandists and public security machinery – is aware of the power of secrecy. Transparency only means self-defamation and suicide.” Therefore it is crucial to ensure secrecy in a variety of areas, ranging from work secret to national security. This can be done via the implementation of a basic principle, that is “to do good in propaganda of the communist ideology” and to keep the press under tight surveillance.

With the advent of the Internet and especially social media networks, however, the task becomes more difficult. Given such context, the propaganda and public security machinery must deal with controlling official media and, at the same time, suppressing the unofficial one, ie. the Internet media.

Press cards

A subtle measure taken by the Party to control the media in the name of “media management” is to maintain the so-called “press card” (not press badges which are issued to journalists covering a specific event). A Vietnamese press card is granted by the Ministry of Information and Communication to a reporter only when he/she meets a set of requirements imposed by a circular titled 07/2007/TT-BVHTT, including “not to be rebuked in the previous 12 months” and “to be recommended by the media agency, the line ministry, the Department of Culture and Information and the Association of the Press.” All the requirements are hard to meet, especially for reporters who tend to criticize the Party.

In particular, the requirement that the reporter must be “recommended by the media agency, the line ministry, the Department of Culture and Information and the Association of the Press” manifests the vague boundary between the state sector and civil society. The press per se is part of the realm of civil society, and the media agency is not an agency performing official duties. 

Accordingly, the government is not entitled to grant press cards to identify those who work in media area; in other words, it cannot make invention in an area beyond its jurisdiction. However, the government in reality keeps exercising this authority, even prescribes that “The media operating within the Socialist Republic of Vietnam is the essential means of providing public information in relation to social life; is the mouth piece of Party organizations, State bodies and social organizations, and a forum for the people” (Article 1 on role and function of the media, Vietnam’s Law on Media, 1999) and the media must “disseminate, publicize and contribute to the establishment and protection of the strategies and policies of the Party, the laws of the State, and the achievements of the country and the world in accordance with the guiding principles and aims of media organizations; to contribute to political stability” (Article 6 on the responsibilities and rights of the media).

As a result, a great many journalists are subject to the direction of the machinery of government whose capacity of communication is decidedly inferior to theirs.

“Free journalist” = reactionary element

Some may say press card itself is no more than a card, thus it is of not much significance. However, press cards are very important. A journalist is someone “who is granted a press card” in law as well as in social perception. Those without press cards are not recognized as journalists. Consequently, they will evidently be barred from any event that the organizers, the police, and the authorities, dislike the press to attend. “Press card bearing” is often referred to as one condition for journalists who want to attend state-organized, high level meetings. With this requirement, the organizers succeed in blocking hundreds of reporters and, of course, bloggers.

More than anyone else, the police insist that only those granted with press cards are recognized as journalists and that those without press cards are just “self-proclaimed” reporters or freelance writers who must not be given access to “authorized information”. On October 30th 2012, Catholic blogger Huyền Trang was detained and interrogated for nearly one day in a Ho Chi Minh City police station. When she told the police that she worked as a reporter for Redemptorist News, an online Catholic news service, they shouted at her, “Who recognized you? Where is your press card? You all are a band of reactionary parasites!” 

In 2011 and 2012 alone, dozens of journalists reported being harassed or even assaulted by the police, ruffians and even civilians. However, their denunciations and complaints simply went ignored because they were not “journalists performing duties” in the eyes of the authorities.

Being unrecognized may cause much more trouble to bloggers because they do not receive protection. Dieu Cay and Ta Phong Tan, the two members of the Free Journalist Club, were severely persecuted when they came to hot spots to report for their personal blog. Both were given harsh sentences in the end: 12 years of imprisonment for Dieu Cay and 10 years for Ta Phong Tan.

On the one hand, the Party and the state tightly control official media. On the other hand, they keep denying the existence of “citizen journalists”.

Both the mainstream media and the blogosphere heard of Truong Duy Nhat, who quit his journalistic career to become a blogger. He is now the owner of the blog “A Different Viewpoint”. Following his arrest on May 26, 2013, journalist Duc Hien (aka. Bo Cu Hung) commented on his FB page, “the thing is that a journalist must be able to access information. If he or she lacks the ability or opportunity to access information, his or her different viewpoint will be either insults, or libels, or talking along the same line as someone else…”

Ironically while political bloggers harshly criticized Hien, he was right from the viewpoint of the authorities. The ability and opportunity to access information remain a huge difference between a journalist and a blogger, or a state-recognized journalist and an independent (free) one. There is no way for a blogger to attend major social or political state-organized events and gatherings, international and national conferences, or interview high ranking officials of the Party and the government.  

The authorities are fully aware that they must employ this disadvantage of the bloggers to keep them in the disadvantageous position to the press. At the same time, they deliberately create an invisible war between “right side” and “left side” media to curb any form of cooperation between state-owned and citizen journalists.

Previous part

Khi nhà nước “cãi lý”

Đào Tuấn 
 
Đối với người dân và DN, mất điện là mất điện. Nhưng đối với nhà đèn. Mất điện gồm tỷ thứ lý do nghe rất quen tai, rằng “do quá tải cục bộ”, do lý do “bất khả kháng”, thậm chí, do người dân dùng nhiều

Hồi đầu tháng, các báo đồng loạt đưa một tin lạ: Bộ Quốc phòng đồng ý bồi thường trước cái chết của một con vẹt. Nguyên nhân, tiếng động cơ từ một chiếc máy bay khiến con vẹt giật mình và ngã gây tử vong. Đây hoàn toàn không phải là một “bản tin ngày cá”, bởi “Bộ Quốc phòng” đồng ý bồi thường trong bản tin là Bộ Quốc phòng Anh, và số tiền bồi thường “lỗi nhà nước” cho các thiệt hại của người dân, trong trường hợp này là chủ con vẹt, không chỉ là 2.200 bảng, mà là 1,4 triệu bảng, cho khoảng 200 đơn kiện, ngay và luôn, không cãi lý “bất khả kháng”, trong 3 năm qua.


Một trong những nguyên tắc bất biến của mỗi một nhà nước, dù tuyên bố hay không tuyên bố các thuộc tính đi kèm “do dân, vì dân” là tính chịu trách nhiệm. Nhà nước có lỗi, hay công chức nhà nước có lỗi và gây thiệt hại cho dân thì nhà nước bồi thường. Rất đơn giản.
Nhưng điều đơn giản đó thực ra không phải dễ thực hiện.
Khi Dự thảo nghị định về xử phạt trong lĩnh vực điện lực vừa đưa ra lấy ý kiến nhân dân, với một tâm thế hoài nghi phổ biến, người dân lập tức đặt câu hỏi trước quy định: Xử phạt từ 8-10 triệu đồng đối với hành vi cắt điện không báo trước.
Không hoài nghi không được khi thời sự là hai sự cố đặc biệt nghiêm trọng diễn ra chỉ trong chưa đầy một tháng: 22 tỉnh toàn miền Nam mất điện, xảy ra hôm 22.5. Toàn bộ khu vực sân bay Tân Sơn Nhất đột ngột mất điện khiến Vietnam Arlines bị chậm 12 chuyến bay với hơn 1.000 hành khách bị delay.
1.000 hành khách bị delay có phải là một thiệt hại lớn từ sự cố điện không?
22 tỉnh miền Nam mất điện có phải là thiệt hại lớn không chỉ đối với người dân, với doanh nghiệp mà cả nền kinh tế không?
Bản thân câu hỏi cũng là câu trả lời.
Cuối tuần trước, trao đổi với báo chí về sự cố mất điện trên diện rộng và trách nhiệm của EVN, trưởng ban Quan hệ cộng đồng EVN Võ Quang Lâm đã nói về một sự “bất khả kháng”. Còn việc xác định trách nhiệm bồi thường trong sự cố mất điện 22 tỉnh, đại diện EVN nói “Việc này EVN đang thống kê, sẽ báo cáo cơ quan chức năng của nhà nước. Luật cũng quy định rất rõ về thế nào là bất khả kháng, thế nào là chủ quan, nên chúng tôi cũng không thể làm gì khác được”.
Đối với người dân và DN, mất điện là mất điện. Nhưng đối với nhà đèn. Mất điện gồm tỷ thứ lý do nghe rất quen tai, rằng “do quá tải cục bộ”, do lý do “bất khả kháng”, thậm chí, do người dân dùng nhiều.
Nhiều khả năng, vụ bồi thường cho “sự cố trăm năm” sẽ là lời giải thích “bất khả kháng” mà cuối cùng người phải chịu hậu quả sẽ vẫn là người dân, là doanh nghiệp.
Còn nhớ chính Cục trưởng Cục bồi thường nhà nước Nguyễn Thanh Tịnh từng phát biểu: Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước chưa tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường”. Thật khó tin khi trong suốt 3 năm luật có hiệu lực, một ngành va chạm nhiều như ngành kiểm sát lại chưa có vụ đòi bồi thường nào. Nhưng lại rất dễ hiểu khi trong luật có quy định “Cơ quan nào gây thiệt hại cũng chính là đơn vị giải quyết bồi thường ban đầu”.
Tức là có vô số lý do đã, đang, và sẽ được dùng để “cãi lý”, không ngoại trừ cả lý do “bất khả kháng”.
Vì thế, chừng nào mà cơ quan nhà nước còn có quyền “cãi lý” với những thiệt hại, dù có thật, của người dân, chừng nào những “lỗi nhà nước” còn được hiểu và nhìn nhận bằng những cái chặc lưỡi, thì khó hy vọng một nghị định, với những mức phạt giống y một sự xoa dịu dư luận, sẽ là một thứ bảo bối răn đe hữu hiệu tình trạng “điện cúp cái rụp”.

Cùng nhau ta đi… nhập kho

Huỳnh Ngọc Chênh 
 
Dạo rày tự dưng bọn thế lực thù địch tung tin đồn nói xấu chế độ tốt đẹp của ta hơi bị nhiều.
Chúng liên tục tung tin sắp tới sẽ cho người nầy nhập kho, cho người kia đi giáo dục làm như chế độ ta được dựng lên là để chuyên đi bắt dân không bằng. Chúng đưa ra danh sách 4 người, rồi danh sách 5 người, rồi danh sách 10 người…và mới đây nhất, theo nhà văn đáng kính Nguyễn Trọng Tạo, từ Bắc Kinh gởi về danh sách đến 20 người. Nghe cái danh sách nầy, Nguyễn Trọng Tạo phải thốt lên: Bắt hết nhân dân thì sống với ai.



Lúc đầu nghe bọn xấu tung ra danh sách 4 người gồm Nhất, Đào, Chênh, Lập* mà trong đó đã có 2 người đi theo 258 rồi, tôi run quá. Chị em, con cái nghe đến cũng hoảng hốt. Con gái út buộc ba phải thề không được viết blog nữa và nửa đêm đang ngủ bên nhà mẹ, cứ giật mình thức dậy, thảng thốt gọi điện qua nhà ba để biết ba vẫn còn ở nhà mới yên tâm đi ngủ lại.
Các chị tôi đều trên 60, cũng sợ không kém. Cả tuổi ấu thơ của chị em nhà tôi là sống trong cảnh ba tôi vì theo cộng sản phải đi tù. Mà ba đi tù thì không phải ít. Sau 54, ba phải đi cải tạo đến 4 năm. Sau đó về rồi, hầu như năm nào, đến ngày lễ lạc hay bầu cử gì đó, ba lại bị bắt giam từ một đến vài tháng. Các chị tôi kể, những năm tháng đó cả nhà sống trong cảnh nơm nớp lo âu, đêm đêm nghe tiếng chó sủa là thức dậy cả nhà, chạy ra chạy vào nghe ngóng. Tôi lúc đó còn nhỏ nên vô tư. Thời ba ở đến 4 năm, tôi chẳng biết gì vì còn quá bé. Chỉ nghe kể lại là tôi đi bú chực khắp xóm, vú bà nào có con cùng tuổi với tôi, tôi đều ngậm đến, thậm chí cả những bà đã ngưng sinh đẻ, không có sửa, tôi cũng ngậm càn vì quá đói.. Khi ấy mẹ phải chạy chợ gấp đôi, đi từ sáng sớm tinh mơ, lúc tôi chưa thức dậy, đến nửa đêm lúc tôi đã ngủ khì mới về nên cả ngày các chị phải bồng quanh xóm bú chực. Thời đó không có gì ăn nên trẻ con bỏ bú rất trể. Sau nầy vào năm 74, sau khi đậu cử nhân, tôi xênh xang áo mũ về quê, đang đi giữa đường làng thì bị một bà già kéo lại, phạch ngực ra ghì đầu tôi vào đó hỏi: Mi có còn nhớ cái dzú già ni không? Tôi hoảng hồn nhưng rồi cũng bẻn lẻn phì cười.
Vào giai đoạn mỗi năm ba bị bắt một lần, tôi đã lớn hơn, nhưng cũng chẳng biết gì. Rất nhiều lần ba bị bắt mà đến sáng ngủ dậy nghe mọi người đến thăm hỏi xôn xao tôi mới hay biết mặc dù tối nào tôi cũng được ngủ chung với ba. Chỉ có một lần duy nhất tôi được chứng kiến cảnh ba tôi nửa đêm bị bắt ra khỏi nhà. Lần đó nghe tiếng ồn ào, tôi giật mình thức giấc thấy trong nhà đầy lính. Ba tôi ngồi trên bộ bàn ghế đặt giữa nhà có vài người không mặc đồ lính ngồi quanh. Các chị tôi khóc như ri. Mọi người nói chuyện gì với nhau tôi không còn nhớ. Tôi chỉ nhớ đến bây giờ câu hỏi của mẹ: Đợt ni lâu may để chuẩn bị đồ đạt? Không nhớ những người kia trả lời cái gì. Sau đó thì ba tôi đi ra khỏi nhà với mọi người, không thấy bị trói vì tôi còn nhớ, trước khi đi ba xoa đầu tôi bảo vào ngủ đi.
Tôi vào ngủ lại đến sáng hôm sau thì dậy chạy u qua nhà thằng Phùng bạn tôi cũng có cha thường bị bắt giống ba tôi hỏi thăm. Nghe cha nó cũng bị bắt khi hôm, tôi rất mừng và hai thằng cùng vui như tết vì sẽ được tự do quậy phá thỏa thích do không có ba ngăn cấm. Ngược lại có những lần chỉ mình ba bị bắt, tôi buồn lắm. Thằng bạn tôi cũng buồn vì tôi được tự do còn hắn thì vẫn còn cha ở nhà cấm đoán nầy nọ.
 
Út cưng của tôi bây giờ cũng thế. Ban đầu nghe mẹ và chị thầm thì về danh sách 4 người mà đã có hai người nhập kho thì hoảng hốt cứ bám riết theo tôi để tôi không còn thời gian viết blog. Nhưng cho đến bây giờ khi nghe danh sách lên đến 20 người thì Út cưng cũng hết sợ. Nó bảo có các chú vào đông đúc ba cũng vui, làm như trong ấy người ta cho các chú tụ tập lại chung một chỗ như đi trẫy hội không bằng. Hơn nữa, thấy ti vi chiếu cảnh tù sung túc của Cù Huy Hà Vũ, Út cũng yên tâm là ở trong nhà tù XHCN ưu việt luôn luôn được đối xử nhân đạo không như cảnh nhà tù Côn Đảo của thực dân đế quốc mà Út thấy trên tivi. Tâm trạng tôi thì luôn tùy thuộc vào tâm trạng Út cưng. Út sợ thì tôi sợ theo, ban đầu tôi sợ lắm, run đến mất ngủ, bây giờ Út hết sợ tôi cũng chẳng sợ gì.
 
Bạn bè cũng rất quan tâm lo lắng, ngay từ khi tôi còn ở Paris có người đã nhắn tin qua khuyên đừng nên về. Giống như Huy Đức bây giờ, có lẽ cũng lắm người khuyên nên…người ơi người ở đừng về. Ngớt đi được một thời gian, rồi khi rộ lên các danh sách, bạn bè lại lo lắng khuyên can. Cũng có nhiều bạn sợ quá, sợ bị liên lụy, không dám liên hệ, không dám hỏi thăm, tình cờ gặp nhau trong quán cà phê, quán nhậu cũng không dám đến gần. Nhiều người làm như cứ ở gần tôi là bị lây nhiểm rồi bị đưa vào danh sách không bằng! Không hiểu chế độ tốt đẹp của ta làm thế nào mà người dân sợ đến thế? Chắc do bọn phản động tuyên truyền tung tin bậy bạ nên người dân nghe theo tưởng chế độ ta xấu thiệt.
Ngược lại có nhiều bạn bè rất tốt, rất bình thường. Vẫn cứ đều đặn thăm hỏi, đều đặn rủ rê đi ăn chơi tiệc tùng. Có khi còn hơn bình thường, lại rủ rê nhiều hơn và câu nói giỡn đầu môi của họ là: Cho ông ăn chơi thỏa thích chứ chẳng còn mấy ngày nữa. he he. Còn những bạn bè đã từng ở tù dưới chế độ cũ sốt sắng bày biểu kinh nghiệm.
Anh Hạ Đình Nguyên, một cựu tù Côn Đảo, thông qua lá thư gởi Cù Huy Hà Vũ đã truyền đạt nhiều kinh nghiệm quý giá khi ở tù. Tôi đọc thư ấy không chỉ xúc động đến khóc mà còn rút ra được nhiều điều bổ ích.
Mới đây, vào một buổi trưa, vì nghe đâu danh sách có tên tôi, bạn đồng hương Lê Tự Quảng, một cựu tù Côn Đảo khét tiếng, từng bị biệt giam trong chuồng cọp, bổng dưng điện thoại hỏi: Mi đang ở mô? Đang ở Thủ Đức- Tôi trả lời. Ở yên đó, tau chạy lên. Thế là từ Tân Bình, vượt qua gần 20 cây số, giữa trưa nắng chang chang, người cựu tù Côn Đảo chạy đến nhà tôi với đầy đủ rượu mồi. Vừa nhậu hắn vừa dạy cho tui biết bao nhiêu kinh nghiệm đấu tranh trong tù. Để hắn say sưa cho thỏa lòng rồi tôi mới nói: Nhưng nhà tù bây giờ nghe không giống gì với ngày xưa. Hắn cười hề hề: Ừ, nhưng cũng rứa thôi.
 
Hôm đi chơi Cam Ranh với nhóm nhà báo Sài Gòn, có hai nhà báo cựu tù là anh Võ Như Lanh và anh Đoàn Khắc Xuyên. Lúc tửu hậu khi nghe nói đến các danh sách, anh Võ Như Lanh nói với Nguyễn Quang Lập, Đỗ Trung Quân và tôi: Các ông bây giờ vui, cứ nghe đồn sắp bắt mà chẳng thấy bắt, làm cả thế giới quan tâm theo dõi hàng ngày, xem thử bị bắt chưa. Hồi thời bọn tôi, chưa kịp nghe chi hết đã bị bắt rồi. Những thằng còn lại sợ quá lo tuôn vào rừng.
He he, ngày xưa có rừng để trốn, bây giờ thì có chỗ nào chui? Thôi thì…”hãy cứ vui như mọi ngày, dù ngày mai không ai thăm nuôi” như Đỗ Trung Quân vẫn nghêu ngao hát.
Hôm qua nghe Nguyễn Trọng Tạo nói về danh sách lên đến 20 người, thì bao nhiêu chút sợ hãi còn vương vất lại trong chúng tôi đều bay đi sạch. Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, từ Hà Nội bay vào với tâm trạng phơi phới rủ chúng tôi đi nhậu. Nghe nói anh cũng có tên trong danh sách nầy.

Rượu vào rồi thì chuyện tới trời cũng xem như chuyện đùa bỡn. Những bạn bè ngồi trong bàn mà không có tên trong danh sách tự dưng thấy thiệt thòi. Nhưng các bạn ấy cũng không ganh tị và tự nguyện phân công nhau lo thăm nuôi những người được xem là có tên. Nguyện vọng thăm nuôi của nhà văn Nguyễn Quang Lập là một cái laptop, nếu có ba gờ nữa thì càng tốt để anh tiếp tục viết blog và liên lạc với thế giới bên ngoài. Nhà thơ kiêm họa sĩ Đỗ Trung Quân thì cần giá vẽ với màu xịn để vẽ và một chút ánh trăng qua cửa sổ…để làm thơ. Còn nguyện vọng của tôi: Cứ gởi đều đặn viagra vào. Các bạn hỏi: Để làm gì trong đó? Tôi nói: Buồn quá để đục vô tường chơi cho vui. he he.
Đỗ Trung Quân nổi tiếng với bài hát cải biên “Cùng nhau đi Bình Hưng Hòa” mà mỗi lần y hát lên, thiên hạ cười phọt cả rượu ra ngoài. Nay y nghêu ngao: Cùng nhau ta đi nhập kho… Lại cười đến sặc gạch!
Mai kia, bọn phản động mà lại có danh sách 30 hoặc 40 người tung ra thì chắc vui hơn nữa. he he.
HNC 

Thư cảm ơn của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ


BVN: Sáng nay 21/6/2013, bà Nguyễn Thị Dương Hà đã gặp được chồng mình, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, tại Trại giam số 5, Thanh Hóa. Bà Dương Hà cho biết do Trại giam số 5 Bộ Công an cuối cùng đã phải ra văn bản giải quyết đơn của anh nên từ 9 giờ sáng hôm nay anh đã kết thúc tuyệt thực. Từ nhà tù, Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ gửi thư cảm ơn đến tất cả mọi người đã ủng hộ cuộc đấu tranh của anh.


Tôi là Ts luật Cù Huy Hà Vũ
 
Thường trú tại 24 Điện Biên Phủ, Ba Đình, Hà Nội
 
Bị Toà án Tối cao nước CHXHCN Việt Nam kết án 7 năm tù giam và 3 năm quản chế kể từ ngày 05/11/2010 vì “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo điểm c khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự. Tôi luôn khẳng định tôi hoàn toàn vô tội vì tôi luôn đấu tranh vì Công lý, Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam, vì độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bị giam tại B11, phân trại K3, Trại giam số 5-Bộ Công an, nhờ vợ tôi là Nguyễn Thị Dương Hà, kính báo với toàn thể mọi người như sau.
 
Ngày 27/5/2013, tôi bắt đầu tuyệt thực để phản đối Giám thị Trại giam số 5 Bộ Công an, Lường Văn Tuyến đã bất chấp Hiến pháp, Luật Tố cáo và Luật Thi hành án hình sự cố ý không giải quyết Đơn tố cáo Lê Văn Chiến, cán bộ Trại giam số 5 cố ý giết công dân Cù Huy Hà Vũ mặc dù trong văn bản Yêu cầu giải quyết Đơn Tố cáo Lê Văn Chiến, cán bộ Trại giam số 5 cố ý giết công dân Cù Huy Hà Vũ mà tôi đã gửi Giám thi Lường Văn Tuyến ngày 12/5/2013 tôi đã cảnh báo là tôi sẽ tuyệt thực nếu không giải quyết Đơn Tố cáo của tôi. Sáng 15/6/2013 khi được Đài Truyền hình Việt Nam và một số báo chí khác của Việt Nam hỏi về tình hình tuyệt thực của tôi ngay tại buồng giam tôi, anh Nguyễn Đình Dặm, người bị giam cùng phòng với tôi đã chỉ vào ảnh của các cháu nội của anh Dặm treo tại buồng giam và nói: “Tôi lấy tính mạng của vợ tôi, của các con tôi và của các cháu tôi ra thề rằng anh Cù Huy Hà Vũ đã không ăn bất cứ miếng nào, không dùng bất kỳ chất dinh dưỡng, chất đạm và thuốc bổ nào ngoài thuốc điều trị bệnh tim và cao huyết áp trong cuộc tuyệt thực hiện nay của anh Cù Huy Hà Vũ. Ngoài ra, nếu tôi nói dối, tôi sẵn sàng chấp nhận bản án 7 năm tù mà tôi đang chấp hành tăng gấp đôi”.
 
Việc Giám thị Trại giam số 5 Bộ Công an Lường Văn Tuyến cuối cùng đã phải ra văn bản giải quyết đơn của tôi sau khi tôi tuyệt thực 25 ngày là thắng lợi của Công lý, là thắng lợi bước đầu của việc đấu tranh của tôi và của toàn thể người Việt Nam trong và ngoài nước vì Công lý, Dân chủ và Nhân quyền và đó cũng là Thắng lợi của toàn thể người Viêt Nam trong và ngoai nước, của chính phủ Hoa Kỳ, chính phủ của 27 nước thuộc liên minh Châu Âu, chính phủ Australia, chính phủ Canada, chính phủ Neuziland và chính phủ các nước khác và của các tổ chức Quốc tế và mọi cá nhân đã ủng hộ tôi quyết liệt, của những người đã tuyệt thực để đồng hành với tôi trong cuộc đấu tranh chính nghĩa này của tôi và của toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung trong cuộc tuyệt thực vừa qua của tôi tại Trại giam số 5 Bộ Công an nói riêng.
 
Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của tôi đến toàn thể nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước đến tất cả các Chính phủ, các tổ chức quốc tế và cá nhân trên thế giới đã ủng hộ tôi quyết liệt và đến những người đã tuyệt thực để đoàn kết với tôi trong cuộc tuyệt thực vừa qua của tôi và tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tôi, Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, sẽ tiếp tục nhận được sự ủng hộ quyết liệt và chí tình ấy trong cuộc đấu tranh của tôi và toàn thể nhân dân Việt Nam vì Công lý, Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam vì cuộc đấu tranh này còn phải tiếp tục cho đến thắng lợi cuối cùng./.

Xung quanh vụ Blogger Phạm Viết Đào bị bắt

 
 
 
Vì sao Phạm Viết Đào bị bắt ?
 Tin ông Phạm Viết Đào bị bắt làm nhiều người không khỏi bàng hoàng, thắc mắc. Hôm nay chúng tôi xin gởi đến mọi người nguyên nhân mà ông Phạm Viết Đào đã bị Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội bắt giữ.

Hôm nay Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội đã tiến hành bắt giữ ông Phạm Viết Đào (sinh ngày 10/4/1952, bắt tại Hà Nội) về hành vị cố ý làm lộ bí mật nhà nước, vi phạm điều 258 Bộ luật Hình sự.

Sau đây là bằng chứng vi phạm cụ thể của ông Phạm Viết Đào cố ý làm lộ bí mật Nhà nước

– Ông Phạm Viết Đào còn tiết lộ thông tin mật của nhà nước khi tiết lộ các thông tin liên quan đến nhân sự các cuộc họp từ Hội nghị Trung ương 4 đến Hội nghị Trung ương 7 nhằm gây bất ổn chính trị, hoang mang, làm mất niềm tin của nhân dân vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà Nước.

Ngoài ra, ông Phạm Viết Đào đã có hành vi vi phạm pháp luật vì xâm phạm quyền tự do, danh dự, nhân phẩm của người khác được quy định rõ ràng tại Điều 258, Bộ luật Hình sự.
 Trích dẫn Điều 258 Bộ Luật Hình sự. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân

1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

 Sau đây là một vài bằng chứng vi phạm cụ thể của ông Phạm Viết Đào đã lợi dụng quyền tự do dân chủ để xuyên tạc tình hình kinh tế, chính trị, xã hội… trong nước.

– Ông Phạm Viết Đào đã dùng những từ ngữ thô tục khi nói về việc sửa đổi Hiến pháp 1992. Nhiều lần thóa mạ người khác và đã bị cộng đồng lên án, chỉ trích nặng nề (vụ nhà thơ Bùi Hoàng Tám). Nhà thơ Trường Giang từng có lời nhật xét về ông Phạm Viết Đào như sau: “Ông Đào là người bạo biện, ôm đồm việc của người khác, trong khi những người trong cuộc chưa ai nói gì!” và “Nguy hiểm hơn, ông “bơm phồng” vấn đề lên”.

– Truyền bá tư tưởng mê tín dị đoan gây mất trật tự an ninh xã hội (vụ “thần xà” nhập người ở Vạn Phúc, Hà Đông).

– Không dừng lại ở đây, ông Phạm Viết Đào còn xuyên tạc lịch sử hào hùng của cả dân tộc Việt Nam khi nói về trận đánh Điện Biên Phủ 1954 (sự kiện đánh đồi A1). Ông tự nhận mình là 1 nhà quân sự “xuất chúng” và phê phán, đưa ra những nhận định lố bịch về chiến lược của cha ông ta và cụ Võ Nguyên Giáp. Ông Phạm Viết Đào còn vỗ ngực tự xưng mình là người “vệ binh cuối cùng” của chế độ.

– Ông Phạm Viết Đào nói sai sự thật nhằm gây bất ổn chính trị, hoang mang, làm mất niềm tin của nhân dân vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà Nước (chửi bới Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh nay là Trưởng ban Nội chính Trung Ương), chửi bới chế độ, đòi đa nguyên đa đảng dưới bút danh Phúc Lộc Thọ.

Xin nói thêm ông Phạm Viết Đào từng là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, nguyên là Cán bộ thanh tra của Bộ Văn hóa – Thông tin, nguyên Trưởng phòng Thanh tra hành chính chống tham nhũng của Bộ Văn Hóa, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Là một người có học thức, có nhận thức chính trị cao thì cớ gì ông Phạm Viết Đào lại hành xử như thế?

Trên đây là một số tư liệu dẫn chứng để biết được lý do mà ông Phạm Viết Đào đã bị Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội bắt giữ.

Đại Lâm

Theo Người Việt

 
 Nhà văn, blogger Phạm Viết Đào, chủ trang blog ‘Phạm Viết Đào -Thế Sự-Văn Chương’ vừa bị ‘bắt khẩn cấp’ hôm 13 tháng Sáu tại Hà Nội.

Tin của Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN), cho hay, ông Phạm Viết Đào bị ‘Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội ra Lệnh khám xét khẩn cấp và Lệnh bắt khẩn cấp.’

 

 
 
Bản tin của TTXVN cho biết,  ‘ông Phạm Viết Đào có hành vi vi phạm pháp luật theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”
 
Hiện nay, người ta không thể truy cập được vào trang Blog của ông tại địa chỉ ‘phamvietdao4.blogspot.com’
 
Nhà văn Phạm Viết Đào, 61 tuổi. hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Ông Đào từng tốt nghiệp Trường Viết văn Nguyễn Du, từng du học về văn chương tại Romania. Ông là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học Romania, từng viết văn, làm phim, từng là Trưởng phòng Thanh tra, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội.
 
Ông Phạm Viết Đào cũng đã từng đi bộ đội, từng tham dự các trận chiến ở Khu 4, Đường 9, Quảng Trị, Trung Lào và từng là một trong số rất ít người công khai tuyên bố từ bỏ Đảng CSVN.
 
Vài năm qua, ông Phạm Viết Đào được nhiều người chú ý khi làm blog “Phạm Viết Đào”.
 
Trên trang blog này, blogger Phạm Viết Đào công khai chỉ trích ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư, ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng, ông Nguyễn Xuân Phúc –  Phó Thủ tướng,  ông Nguyễn Bá Thanh – Trưởng Ban Nội chính Trung ương. Gần đây, ông Đào là một trong những người công khai chỉ trích việc sửa đổi Hiến pháp và bản dự thảo hiến pháp.
 
Cuối tuần trước, trả lời BBC về hoạt động “lấy phiếu tín nhiệm”, ông Đào nhận định: “Quốc hội nào thì chính phủ ấy”. Ông Đào khẳng định, ông không hy vọng có “đột phá”.
 
Việc Công an Hà nội “bắt khẩn cấp” blogger Phạm Viết Đào chỉ được Thông tấn xã Việt Nam loan báo ngắn gọn. Hãng tin chính thức của chính quyền Việt Nam cho biết, Công an Việt Nam sẽ “tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi vi phạm của ông Phạm Viết Đào để xử lý theo quy định của pháp luật”.
 
Tuy nhiên, trên nguyentandung.org – trang web vẫn được xem là tiếng nói không chính thức của Thủ tướng Việt Nam, có rất nhiều thông tin nhằm giải thích rõ hơn vì sao ông Phạm Viết Đào bị bắt.
 
Theo đó, ông Đào bị bắt vì “tiết lộ thông tin mật của nhà nước, liên quan đến nhân sự các cuộc họp từ Hội nghị Trung ương 4 đến Hội nghị Trung ương 7 nhằm gây bất ổn chính trị, hoang mang, làm mất niềm tin của nhân dân vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà Nước”. Ngoài ra, ông Đào còn “xâm phạm quyền tự do, danh dự, nhân phẩm của người khác”.
 
Tuy trang nguyentandung.org không cho biết “người khác” là ai nhưng ở một bài viết khác cũng đề cập đến việc bắt blogger Phạm Viết Đào, trang web này viết, một trong những lý do khiến ông Đào bị bắt là vì ông đã “nói sai sự thật nhằm gây bất ổn chính trị, hoang mang, làm mất niềm tin của nhân dân vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà Nước”.
 
Cách nay 18 ngày, Công an Việt Nam cũng đã “bắt khẩn cấp” blogger Trương Duy Nhất vì “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.
 
 Blogger Trương Duy Nhất, 49 tuổi, từng là phóng viên của báo Công an Quảng Nam – Đà Nẵng, sau đó chuyển qua làm phóng viên thường trú của báo Đại Đoàn kết tại miền Trung. Từng tuyên bố rời bỏ làng báo Việt Nam để dành thời gian cho blog “Một góc nhìn khác”.
 
Vụ bắt giữ blogger Trương Duy Nhất đã bị cả dư luận trong nước lẫn chính quyền nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế chỉ trích kịch liệt. Một điều phối viên đặc trách khu vực châu Á của Ủy ban Bảo vệ các nhà báo nhận định: “Càng ngày chính quyền Việt Nam càng kháng cự mạnh hơn vì vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục yêu cầu cả Liên Hiệp quốc lẫn chính quyền các quốc gia khác trên thế giới, giải quyết tình trạng áp chế nghiêm trọng đối với giới truyền thông và quyền tự do ngôn luận, để tìm cách lật ngược xu hướng đó tại Việt Nam”.
 
Tuần trước, khi nghe đại diện chính phủ Hoa Kỳ điều trần về quan hệ với Việt Nam, Dân biểu Ed Royce, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại của Hạ viện Hoa Kỳ, cho rằng, chính phủ Hoa Kỳ cần phải hành động và không thể không lên tiếng khi từ đầu năm đến nay, chính quyền Việt nam đã tống giam hơn 40 nhân vật bất đồng chính kiến.
 
Vị dân biểu này tin là, việc gây áp lực để chính quyền Việt Nam phóng thích những nhân vật bất đồng chính kiến không phải là một đòi hỏi quá đáng, bởi những nhân vật đó bị trừng phạt chỉ vì họ đã thực thi các quyền cơ bản của con người, bày tỏ quan điểm ôn hòa của công dân, vốn là những điều mà chính Việt Nam đã tự nguyện cam kết với cộng đồng  quốc tế là sẽ tôn trọng.
Theo BBC

Thông tấn xã Việt Nam nói công an Hà Nội bắt “khẩn” blogger Phạm Viết Đào và ông này có “thái độ chấp hành”.

Hãng tin chính thức của Việt Nam nói: “Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội ra Lệnh khám xét khẩn cấp và Lệnh bắt khẩn cấp đối với ông Phạm Viết Đào, sinh ngày 10/4/1952 tại Nghệ An; hiện thường trú tại…Hà Nội.”

“Ông Phạm Viết Đào có hành vi vi phạm pháp luật theo Điều 258 Bộ Luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”

Thông tấn xã Việt Nam nói ông Đào đã có “thái độ chấp hành” và công an đang “tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi vi phạm” của blogger này.

Hôm 9/6 ông Đào đã bình luận với BBC về đợt lấy phiếu tín nhiệm đầu tiên của Quốc hội và nói đây là “thử thách cho nền chính trị của Việt Nam” và rằng “Quốc hội nào Chính phủ ấy”.

Bình về các cố gắng thay đổi nền chính trị Việt Nam, ông Đào nói ông không hy vọng có “đột phá” nhưng “méo mó có hơn không”.

Blogger cũng nhận xét và dự đoán về chiều hướng kết cục của cuộc sửa đổi Hiến pháp 1992 đang được Chính quyền và Đảng cộng sản vận động từ đầu năm tới nay.

Trấn áp blogger
Ngay sau khi tin ông Đào bị bắt được đưa ra tối 13/6, trang có quan điểm bảo vệ chính quyền nguyentandung.org đã có ngay bài viết dài mang tên “Phạm Viết Đào là ai”.

Trang này nói ông Đào từng công tác tại Vụ Điện ảnh của Bộ Văn hóa và sau đó là Thanh tra của bộ này cho tới năm 2007.

Sau đó ông còn là Trưởng phòng Thanh tra hành chính và phòng chống tham nhũng của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch.

Trang nguyentandung.org nói ông Đào là Hội viên Hội nhà văn và cũng từng dịch nhiều tác phẩm sang tiếng Romania, nước ông đã tới du học và tốt nghiệp đại học ngành văn chương.

Trang này đặt câu hỏi “điều gì đã khiến một con người từng được coi là mạnh tay trong việc xử lý những sai phạm trong báo chí lại sa lầy vào con đường mà bản thân dư sức hiểu là lầm lỗi….?” và dẫn lời một blogger khác gọi ông Đào là “Phạm Viết Bừa”.

Ông Đào là blogger thứ hai bị bắt trong chưa đầy một tháng qua.

Một blogger có tiếng khác, cựu nhà báo Trương Duy Nhất, cũng đã bị bắt tại Đà Nẵng hôm 26/5 và bị đưa ra Hà Nội để tiếp tục điều tra ngay trong ngày.

Các tổ chức quốc tế cũng cáo buộc Việt Nam bỏ tù hàng chục cây viết khác trong thời gian gần đây trong khi Việt Nam luôn nói họ chỉ bỏ tù những người vi phạm pháp luật.

Theo RFA

Nhà văn Phạm Viết Đào, một blogger nổi tiếng vừa bị công an Hà Nội bắt giữ vài tiếng đồng hồ trước đây với tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.”

 
Ông Đào bị bắt một thời gian ngắn sau nhà báo blogger Trương Duy Nhất cũng với tội danh này.
 
Nhà văn Phạm Viết Đào là chủ nhân trang blog Phạm Viết Đào Thế sự-Văn chương rất nổi tiếng.
 
Trang blog của ông không những đăng lại những bài viết phản biện mạnh mẽ mà chính bản thân ông cũng có nhiều bài phóng sự về các trận chiến biên giới năm 1979 tại Hà Giang.
 
Ông thực hiện những bài phỏng vấn nói lên hiện trạng che giấu sự thật về cuộc chiến mà thủ phạm là Trung Quốc, được bao che và ngăn cấm của những cán bộ Việt Nam.
 
Chính quyền Hà Nội hồi gần đây ngày càng thẳng tay đàn áp những người bất đồng chính kiến hay các blogger trung thực, can đảm dám nói lên tiếng nói phản kháng của họ đối với chính sách sai trái của nhà nuớc.
 
Việc bắt giữ blogger Phạm Viết Đào đi ngược lại với những gì mà Việt Nam hứa hẹn đối với dư luận thế giới về tôn trọng quyền phát biểu của người dân.
Vài dòng tiều sử nhà văn Phạm Viết Đào
 Sinh năm 1952 ở Nghệ An, ông Phạm Viết Đào tham gia quân ngũ, chiến đấu tại các mặt trận Quảng Trị, Trung Lào, trước khi trở thành nhà văn.
 
Ông  thuộc trong số sinh viên tốt nghiệp khóa đầu tiên của Trường viết văn Nguyễn Du, trước khi sang Romania du học về văn chương năm 1974.
 
Về nước sau một thời gian công tác tại Xưởng phim Quân đội, đến năm 1992 ông được bổ nhiệm làm Thanh tra Bộ Văn hóa.
 
Đến năm 2002, nhà văn Phạm Viết Đào được cử giữ chức Chánh văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hàng Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn, Hội Nhà báo Việt Nam.
 

Tự do báo chí kiểu Việt Nam (kỳ 1)

 Theo Báo cáo công tác báo chí năm 2012, do Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn trình bày tại Hội nghị cán bộ báo chí toàn quốc triển khai nhiệm vụ năm 2013, “tính đến tháng 2/2013, số lượng cơ quan báo in trên cả nước là 812 với 1084 ấn phẩm. Trong đó, có 197 tờ báo in (84 báo Trung ương, ban, bộ, ngành, đoàn thể, 113 báo địa phương). Trong lĩnh vực thông tin điện tử, 336 mạng xã hội, 1174 trang thông tin điện tử tổng hợp.
Cả nước hiện có 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương, trong đó có 02 đài quốc gia là Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, 01 đài của ngành (Đài Truyền hình KTS VTC); 64 đài phát thanh và truyền hình địa phương với 172 kênh chương trình phát thanh và truyền hình (99 kênh truyền hình, 73 kênh phát thanh) Về đội ngũ cán bộ báo chí, cả nước hiện có gần 17000 người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ, 19000 Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, sinh hoạt tại các chi hội, liên chi hội…”.
Nghe quen quen? Đó là bởi vì mẫu câu này về căn bản vẫn được giữ nguyên qua các năm, chỉ có con số thay đổi chút đỉnh. Ví dụ như năm 2012:“Truyền thông đại chúng nói chung, báo chí nói riêng hiện nay ở nước ta chưa bao giờ phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, về số lượng, về loại hình như ngày nay. Tính đến tháng 3/2012 nước ta có 786 cơ quan báo chí in (184 báo in, trên 592 tạp chí) với 1016 ấn phẩm trong đó báo có 194 cơ quan gồm 81 báo Trung ương, 113 báo địa phương; tạp chí có 592 cơ quan (475 tạp chí Trung ương và 117 tạp chí địa phương; 1 hãng thông tấn quốc gia; 2 đài phát thanh, truyền hình quốc gia; 1 đài truyền hình ngành; 64 đài phát thanh, truyền hình thành phố, 47 đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình cáp, 9 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp. Trong lĩnh vực thông tin điện tử, cả nước có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp...”.Và thống kê của năm 2011:“Tính đến tháng 3/2011, trên lĩnh vực báo in, cả nước có 745 cơ quan báo chí với 1003 ấn phẩm. Ở lĩnh vực phát thanh và truyền hình, có 67 đài phát thanh, truyền hình gồm 3 đài phát thanh, truyền hình ở trung ương (VOV, VTV, VTC), và 64 đài phát thanh-truyền hình ở các địa phương với 200 kênh sản xuất trong nước và 67 kênh nước ngoài. Trong lĩnh vực thông tin điện tử, cả nước có 46 báo điện tử và tạp chí điện tử, 287 trang tin điện tử của các cơ quan báo chí và hàng nghìn trang tin điện tử có nội dung thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nước và Chính phủ, các đoàn thể, hội, hiệp hội và các doanh nghiệp. Cũng tính đến tháng 3/2001, cả nước có gần 17.000 người đã được cấp thẻ nhà báo và trên 5.000 người đang hoạt động báo chí nhưng chưa có thẻ, trong đó nhiều phóng viên, biên tập viên có trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ khá”.Đây là những thông tin thường được Đảng và Nhà nước Việt Nam, thông qua báo chí chính thống và mạng lưới dư luận viên, đưa ra mỗi khi cần dẫn bằng chứng cho tự do báo chí ở Việt Nam.  Điều này có lẽ xuất phát từ một đặc điểm tâm lý chung của những người cộng sản là rất thích con số, thích sự “lượng hoá” để làm bằng chứng, kiểu như GDP mỗi năm tăng trưởng 7%, hay thu nhập đầu người ở Việt Nam tính trung bình là xyz USD/năm kể từ năm abc, hoặc lượng hoá một cách thô thiển nữa thì thành kiểu “ba phe, bốn mâu thuẫn”, “thanh niên ba sẵn sàng”, “phụ nữ ba đảm đang”…

Có vấn đề là Đảng và Nhà nước lại chỉ sử dụng con số cơ quan báo chí và số lượng nhà báo hoạt động như là bằng chứng rõ nhất và duy nhất cho tự do báo chí ở Việt Nam, còn các cơ quan và con người đó hoạt động như thế nào thì lại không nói đến.

Công khai chỉ đạo trong bí mật

Hàng tuần tại Hà Nội và TP.HCM, Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành uỷ, cùng đại diện Bộ Thông tin – Truyền thông và cơ quan an ninh, đều tổ chức một cuộc họp với tất cả tổng biên tập các tờ báo quan trọng (mức độ quan trọng là do Ban Tuyên giáo đánh giá). Ở các tỉnh, thành khác, cơ quan tuyên giáo địa phương cũng có hoạt động tương tự vào thời gian tuỳ họ ấn định.

Cuộc họp này được gọi một cách tế nhị là “giao ban báo chí hàng tuần”, còn thực chất nó là một buổi “định hướng thông tin tuyên truyền”, trong đó, đại diện Ban Tuyên giáo sẽ nhận xét các báo tuần qua làm gì tốt (thì biểu dương), làm gì chưa tốt hoặc sai phạm (thì xử phạt); tuần tới thì sẽ tập trung làm gì và chú ý đừng làm gì. Người được mời dự họp là các tổng biên tập hoặc đại diện có thẩm quyền của các báo, và tất nhiên, 100% phải là đảng viên.

Việc tiến hành những cuộc họp như thế thực sự là hành động xoa đầu, răn dạy, kết hợp đe dọa và trấn áp báo chí, và dĩ nhiên là chẳng theo một quy định pháp luật nào: Thật là chối tỉ khi toàn bộ hệ thống báo chí đều bị coi là “lực lượng tuyên truyền” và do một đảng chính trị đứng ra chỉ đạo, định hướng. Có lẽ Đảng cũng tự thấy rõ việc này là khó chấp nhận, là giẫm lên luật pháp và nguyên tắc báo chí, cho nên ở đây có một việc rất buồn cười là: Một mặt họ yêu cầu tất cả “các đồng chí lãnh đạo cơ quan báo chí” phải quán triệt các định hướng của họ đến anh chị em phóng viên ở toà soạn, nhưng mặt khác họ lại cũng yêu cầu các báo phải tuyệt đối giữ kín chuyện Đảng đứng ra chỉ đạo báo chí, tuyệt đối không bàn đến, không để rò rỉ thông tin ra bên ngoài, nhất là cho các thế lực thù địch, rằng “có một cuộc họp như thế” mỗi tuần ở Hà Nội và TP.HCM.

Biên bản ghi chép một cuộc họp giao ban báo chí như thế vào ngày 29/3/2011 đã bị rò rỉ ra lề trái, với một số chỉ đạo nổi bật như: Không đưa tin về việc diễn viên Hồng Ánh tham gia ứng cử Đại biểu Quốc hội; sắp tới sẽ xét xử vụ Cù Huy Hà Vũ, đề nghị khi nhắc về con người này thì không đưa danh vị tiến sĩ và chức danh luật sư; không nhắc đến vụ chìm tàu tại Hạ Long để tránh ảnh hưởng đến du lịch của đất nước; không đưa tin các vấn đề liên quan đến nhà máy điện nguyên tử của Việt Nam, v.v.

Vị lãnh đạo cơ quan báo chí đứng tên trên văn bản (Phó Giám đốc Truyền hình Kỹ thuật số VTC, ông Vũ Quang Huy) và vài nhân viên liên quan được một phen tá hoả vì sợ bị truy cứu trách nhiệm.  Rút kinh nghiệm vụ này, sát trước phiên toà xử ông Cù Huy Hà Vũ, phóng viên nội chính của các tờ báo lớn đều nhận được một văn bản không tiêu đề, không tên người gửi, không cơ quan, không con dấu, chỉ thị rõ các báo đưa tin theo hướng phản ánh tính nghiêm minh của phiên toà và sự xác đáng của bản án, “không mở rộng bình luận”, “không gọi bị cáo là tiến sĩ vì có thể bị cáo lợi dụng”, v.v.

Tháng 12-2012, tại một cuộc họp giao ban báo chí định kỳ, ông Nguyễn Thế Kỷ, ban Tuyên giáo Trung ương, đã quở trách báo chí đưa tin “không đúng” về sự kiện tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam. Theo ông Kỷ, phía Trung Quốc chỉ là “vô tình gây đứt cáp” chứ không có ý cắt cáp, phá hoại “ta”. (Trên thực tế, những người có chuyên môn, chẳng hạn một số kỹ sư ở Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Petrovietnam, đều khẳng định rằng không có chuyện Trung Quốc vô tình). Điều đáng chú ý là băng ghi âm ghi lại bài khiển trách của ông Kỷ đã bị tuồn lên mạng, sau đó tờ báo hải ngoại bị coi như “đài địch” là BBC Việt Ngữ liên hệ với ông Kỷ đề nghị phỏng vấn – ông bèn nói tránh rằng mình chỉ “trao đổi nghiệp vụ” với các báo mà thôi. Cả ông Kỷ và Ban Tuyên giáo đều không hài lòng trước việc bị lộ “hoạt động định hướng thông tin tuyên truyền”. Nghe nói (cũng chỉ là “nghe nói”) vào buổi họp giao ban tuần tiếp theo, họ tỏ ra rất cảnh giác trước nguy cơ bị ghi âm, có lẽ chỉ còn thiếu nước khám người tất cả các tổng biên tập và đại diện toà báo tham dự họp để kiểm tra xem có gài thiết bị ghi âm hay không.

Chỉ đạo qua điện thoại, tin nhắn

Các báo chú ý: Ngày mai, 1/7, là ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Các báo tuyệt đối không đưa tin về biểu tình, về tranh chấp chủ quyền Việt Nam-Trung Quốc”. Tin nhắn này, đề ngày 30/6/2012, chỉ là một trong vô số tin nhắn truyền đạt mệnh lệnh của cơ quan quản lý báo chí đến lãnh đạo (tổng biên tập) các báo. Bên cạnh đó là các cú điện thoại của “trên”, ra các chỉ đạo “miệng”: Không đưa tin về vụ này, không làm đậm vụ kia, hạn chế đề tài nọ v.v. Thật là một cách chỉ đạo tuyệt vời khôn ngoan vì nó hiệu quả mà lại rất kín, không để lại văn bản, con dấu, chữ ký… chẳng có bằng chứng gì cho thấy các báo đã được/bị định hướng. Bọn “thế lực thù địch” có muốn rêu rao các luận điệu bôi nhọ, bêu xấu ta cũng chẳng được – bằng chứng đâu? Tất cả chỉ là vu khống.

Hơn ai hết, Đảng – mà đại diện ở đây là bộ máy tuyên giáo và an ninh – ý thức được sức mạnh của sự bí mật. Công khai, minh bạch là tự làm mất mặt mình, tự giết mình. Cũng từ đây, nảy sinh nguy cơ mà Đảng rất không thích và luôn đề cao cảnh giác, đó là sự hợp tác, bắt tay nhau giữa “lề phải” và “lề trái”, hành động tuồn thông tin từ các nhà báo “chính thống” sang giới blogger để blogger tung lên mạng.

Next Part –>

Tôi góp ý sửa đổi hiến pháp

Ngô Minh

4525123920130508101834640Mặc dù Bộ Chính Trị từ lâu, và Quốc hội trong hai ngày thảo luận đã xác quyết là “không bỏ điều 4”, là “không đổi tên nước”, “đất đai là sở hữu toàn dân”, “Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”,” không tam quyền phân lập”.v.v…, nhưng các địa phương vẫn hô hào nhân dân góp ý kiến. Họ in phiếu gửi về cho các hộ gia đình. Cô tổ trưởng tổ dân phố chỗ tôi ở mang đến nhà tôi cái “Phiếu góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992”. Trong đó ghi rõ Thông tin về người góp ý : tên chủ hộ, địa chỉ nới ở và Nội dung góp ý. Cô tổ trưởng còn chìa ra một bản danh sách ghi tên các hộ trong tổ, bắt tôi ký vào rằng đã nhận phiếu góp ý. Nếu không nhận phiếu góp ý ( tức là không muốn góp ý) phải ghi rõ lý do chính đáng. Nghĩa là bắt buộc mọi người phải góp ý. Đây là cách để biết ai không đồng tình, ai đồng tình, từ đó mà tính % số người góp ý, như Ban soạn thảo sửa đổi Hiến Pháp đã báo cáo trước kỳ họp 5 ,QH khóa 13 : “thực sự là đợt sinh hoạt chính trị – pháp lý dân chủ, sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân và cả hệ thống chính trị; đã có hơn 26.091.000 lượt ý kiến góp ý của nhân dân với hơn 28.000 hội nghị, hội thảo, tọa đàm được tổ chức; ý kiến của nhân dân đã được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, kịp thời, khách quan, trung thực”. Và Ban sửa đổi dự thảo Hiến pháp 1992 đã công bố bản sửa đổi trước Quốc hội y chang như cũ, nghãi là những ý kiến đóng góp của nhân dân “không có nghĩa lý gì”. Đây là cái mẹo để tuyên truyền là “Toàn dân ta theo Đảng”. Với cách làm này chắc chắn sẽ có hơn 90% người dân Việt Nam góp ý dự thảo Hiến pháp. Một con số rất sướng bụng Ban tuyên giáo.

Sau đây là nguyên văn một số ý kiến góp ý của tôi với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, đã ghi vào “Phiếu góp ý” gửi lên trên, dù biết là họ không bao giờ đọc, không bao giờ nghe, thậm chí họ còn vứt vào sọt rác.

“ Nội dung góp ý:

1.Lời nói đầu : Dự thảo viết: “Dưới ánh sáng của Chủ Nghĩa Mác- Lê Nin”. Tôi thấy nên bỏ câu này, vì các nước Liên Xô, Đông Âu là thầy của Việt Nam về Chủ nghĩa Mác- Lê Nin, người ta đã nhận ra những sai sót của chủ nghĩa này, đã bỏ. Việt Nam chỉ là đứa học trò nhỏ, bây giờ thầy đã bỏ Chủ nghĩa Mác Lê Nin, bỏ Chủ nghĩa xã hội, không có lý gì Việt Nam không bỏ. Mà thực tế càng đi theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin thì dân càng khổ, vì nhà nước chuyên chính, đấu tranh giai cấp, dân không có tự do ngôn luận, không có có dân chủ.

 2.Điều 1 dự thảo : Nên đổi tên nước, lấy lại tên do Cụ Hồ đặt “ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” vì mô hình XHCN là một mô hình không có thực

 3. Đề nghị Ban dự thảo bỏ điều 4

Lý do : Từ thực tế cuộc sống, tôi thấy Hiến pháp là cái trường tồn của một đất nước. Ở Mỹ có 2 đảng thay nhau cầm quyền, nhưng Hiến pháp là chung tồn tại cả trăm năm nay. Nếu để điều này thì Hiến Pháp chỉ là hiến pháp của một đảng 3 triệu đảng viên, chứ không phải Hiến pháp của đất nước gần 90 triệu người. Hơn nữa hiện nay ĐCS VN đang suy thoái nghiêm trọng ( theo Nghi quyết TW 4 “một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái”, không nhỏ tức là lớn), nên Đảng không còn xứng đâáng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Người dân thường bảo: “Ông này đảng viên mà tốt !”. Vì thế, Đảng phải xây dựng thật vững mạnh, rồi đưa vào các lần sửa đổi hiến pháp sau này.

 4. Điều 13 ( dự thảo sửa đổi) : – Đề nghị Hiến pháp sửa đổi ghi rõ : Quốc ca của nước ta là bài hát “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao. Quốc Kỳ cũng vậy, phải ghi rõ tên tác giả. Đây là vấn đề bản quyền, không thể tùy tiện bỏ tên tác giả được.

5. Điều 58 sửa đổi : Mục 3: Bỏ phần:” Các dự án phát triển kinh tế xã hội..” Vì đây là nguyên nhân của tất cả các vụ ăn cướp đất của dân cho “lợi ích nhóm” đã xảy ra trong nhiều năm nay.

6. Điều 70 sửa đổi. Đề nghị vẫn giữa nguyên như điều 45 Hiến pháp 1992: “Quân đội phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân…”.Bỏ đoạn :” phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam”. Vì tên quân đội là : Quân đội Nhân dân Việt Nam, chứ không phải Quân đội cộng sản Việt Nam. Đề nghị nên giữ điều này trong Hiến pháp 1992, vì Quân đội Nhân dân Việt Nam “Trung với nước, hiếu với dân” đã đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Quy định Quân đội Trung thành với Đảng là rất nguy hiểm vì khi dân bất bình trong cưỡng chế thu hồi đất đai, đấu tranh, ĐẢNG ỦY CÁC CẤP LẠI ĐIỀU QUÂN ĐỘI ĐI ĐÀN ÁP, thì gây tai họa cho đất nước.

 Ngày 25 tháng 5 năm 2013

Người góp ý ký tên

Ngô Minh Khôi

Theo blog Ngô Minh